Color Palette Selector
Giảm nghèo ở Việt Nam, thành tựu và thách thức    

Thời gian qua, nước ta đã đạt được những thành tựu ấn tượng về giảm nghèo do tăng trưởng kinh tế diễn ra trên diện rộng, đem lại những cải thiện đáng kể về chất lượng cuộc sống cho hầu hết người dân; do nhiều chương trình lớn, chính sách được thực hiện có kết quả như Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo, Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2006-2010, Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 63 huyện nghèo, chính sách hỗ trợ dân tộc đặc biệt khó khăn… Những thành tựu đó bước đấu được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.

Theo Tổng cục Thống kê và Ngân hàng Thế giới (WB), tỉ lệ nghèo đã giảm liên tục trong vòng khoảng hai thập niên qua, từ 58% năm 1993 xuống còn 37,4% năm 1998, 28,9% năm 2002, 16% năm 2006 và 14,5% năm 2008; khoảng 30 triệu người đã thoát nghèo.

Đối với những người còn chưa thoát nghèo cũng có chất lượng cuộc sống được cải thiện đáng kể như sự thiếu hụt tiêu dùng của người nghèo ở mức trung bình so với ngưỡng nghèo, được đo bằng tỉ lệ khoảng cách nghèo cũng đã giảm liên tục từ 18,5% năm 1993 xuống mức rất thấp là 3,5% năm 2008; tương tự, thước đo về mức độ trầm trọng của nghèo đói cũng đã giảm từ 7,9% xuống còn 1,2%. Các chỉ số phi thu nhập thể hiện sự tiếp cận của người nghèo đến các dịch vụ xã hội cơ bản và cơ sở hạ tầng là giáo dục, y tế, điện, đường, nước, vệ sinh dịch tễ… đều khẳng định xu hướng tích cực này; đơn cử năm 1993, chưa đến 37% người nghèo được sử dụng điện, thì nay gần 90% người nghèo đã có điện sử dụng sinh hoạt. Những đặc tính của nhóm nghèo cũng đã thay đổi đáng kể như quy mô hộ của một gia đình nghèo điển hình giảm từ 5,2 người năm 1993 xuống còn 4,8 người năm 2008; tương tự, tỉ lệ người sống phụ thuộc giảm từ 55% xuống còn 49,7%, cho dù tỉ lệ này còn cao hơn so với các hộ gia đình không nghèo. Tỉ lệ hộ nghèo có chủ hộ học hết tiểu học tăng lên, nhưng tỉ lệ hộ nghèo với chủ hộ có học vấn cao hơn tiểu học lại giảm xuống; điều đó diễn giải tại sao các hộ nghèo chuyển đổi cơ cấu sản xuất khá chậm, nhất là hộ nghèo làm nông nghiệp giảm khá khiêm tốn, từ 51,3% năm 1993 xuống còn 47,3% năm 2008. Sự tăng mạnh của tỉ lệ hộ nghèo có chủ hộ là người dân tộc thiểu số, tăng từ 17,7% năm 1993 lên 40,7% năm 2008, nói lên sự thay đổi lớn nhất trong đặc tính của nhóm nghèo và vấn đề nghèo đang có xu hướng tập trung nhiều hơn ở nhóm đồng bào dân tộc thiểu số do sự tiến bộ không đồng đều trong giảm nghèo giữa các nhóm dân cư khác nhau về mức sống, về sở hữu tài sản bao gồm khả năng tiếp cận đất đai, các dịch vụ xã hội cơ bản, trình độ học vấn và về tiến độ giảm nghèo. Sự khác biệt lớn nhất về thành tựu giảm nghèo giữa nhóm đồng bào người Kinh, người Hoa với nhóm đồng bào dân tộc thiểu số, theo đó, nhóm người kinh, người Hoa có mức giảm nghèo 53,9% năm 1993 xuống 9% năm 2009, nhóm đồng bào dân tộc thiểu số tương tự là 86,4% xuống 50,3%. Tỉ lệ nghèo ở nông thôn năm 1993 là 66,4% và 18,7% năm 2008; tương tự ở thành thị là 25,1% và 3,3%. Tỉ lệ nghèo ở vùng, miền cũng khác nhau: vùng Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Hồng giảm nghèo diễn ra nhanh hơn, với 3,5% và 8,1% năm 2008; tương tự, vùng Tây Bắc 45,7%, vùng Đông Bắc, Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ là 24,3%, 24,1% và 22,6%, cao hơn Nam Trung Bộ là 13,7%. Trong mỗi nhóm dân cư, tỉ lệ giảm nghèo cũng khác nhau như nhóm đồng bào dân tộc thiểu số, tỉ lệ nghèo đồng bào HMông ở mức 83,4%, đồng bào Tây Nguyên 75,2%, đồng bào Khơme 23,1%, đồng bào Tày 32,1%.

Việt Nam đã thoát khỏi danh sách các nước nghèo, nhưng một bộ phận dân cư chưa thoát khỏi hẳn bẫy nghèo đói; điều đó khác hẳn so với 20 năm trước đây là một chính sách có thể tác động tích cực đến từng nhóm dân cư, thì ngày nay cần có chính sách bao trùm hơn tính đến đặc thù của từng nhóm thì mới mang lại hiệu quả cao trong việc giảm nghèo và giúp đất nước tránh được “bẫy bất bình đẳng”.

Theo các chuyên gia, vấn đề đầu tiên là phân tích động thái nghèo để tiếp tục làm rõ sự đa dạng của nhóm người nghèo và sự khác biệt giữa nghèo ở trạng thái tĩnh và nghèo ở trạng thái động, từ đó làm căn cứ để xây dựng chính sách giảm nghèo. Đó là những người nghèo kinh niên, những người có sự thay đổi trạng thái nghèo (khi thuộc nhóm nghèo, khi không thuộc), những người thoát nghèo bền vững và nhóm người nghèo nhất thời. Vì qua ba cuộc điều tra mức sống dân cư vào các năm 2002, 2004 và 2006 thì mặc dù tỉ lệ nghèo giảm đều từ 28,9% năm 2002, còn 16% năm 2006, 35% dân số đã từng ở trong trạng thái nghèo, trong đó có ¼ vẫn đang sống trong cảnh nghèo kinh niên (liên tục nghèo trong cả giai đoạn, chiếm 9,3% dân số) và ¾ có sự thay đổi trạng thái nghèo, những người thoát nghèo bền vững chiếm 11,3% tổng dân số (trên 30% dân số nghèo), những người nghèo nhất thời 14,4% (trên 40% dân số nghèo). Phân tích những khác biệt đáng kể giữa các nhóm dân tộc về động thái nghèo: nhóm dân tộc thiểu số, những người nghèo kinh niên chiếm tỉ lệ cao nhất 39,2%, nghèo nhất thời 29,4%, thoát nghèo bền vững 12,8%, chưa bao giờ nghèo 18,6%; nhóm người Kinh, người Hoa tương tự là 6,1%, 12,2%, 11,8%, 70%. Vùng Bắc Trung Bộ chiếm tỉ lệ lớn nhất trong nhóm nghèo kinh niên 32,6%, vùng núi phía Bắc 24,9%, Tây Nguyên 21,8%, đồng bằng sông Cửu Long 10,4%, đồng bằng sông Hồng 3,8%, Đông Nam Bộ 0,8%. Nhóm nghèo kinh niên có đặc điểm là thời gian năm 2002 có 30,7% tỉ lệ người sống phụ thuộc vào chủ hộ, trong khi tỉ lệ trung bình cả nước là 16,3%; tỉ lệ chủ hộ chưa qua giáo dục tiểu học 57,8% so với tỉ lệ trung bình cả nước 31,5%; thiếu điện 36,8% so với tỉ lệ trung bình cả nước 11,9% và thiếu nước sạch 87,1%, cả nước trung bình 57,2%. Với nhóm thoát nghèo bền vững, tỉ lệ chủ hộ hoàn thành giáo dục phổ thông cơ sở 37%; tương tự nhóm nghèo kinh niên 11%, nhóm nghèo nhất thời 27,1%. Cần có các giải pháp khác nhau đối với nhóm nghèo kinh niên và nghèo nhất thời. Với nhóm nghèo kinh niên, là nhóm có trạng thái nghèo ở dạng tĩnh, nên hỗ trợ xã hội gồm các chương trình mục tiêu là phù hợp và điều quan trọng là phải cải thiện việc xác định hộ nghèo; đưa ra hình thức hỗ trợ phù hợp cho từng nhóm đối tượng dựa trên nhu cầu đa dạng của những người nghèo để giảm thiểu rò rỉ, mở rộng độ bao phủ, tăng mức hỗ trợ, đơn giản hóa các khâu thiết kế, tổ chức thực hiện chương trình nhằm giảm chi phí giao dịch và tránh tâm lý ỷ lại của những người nghèo nhận hỗ trợ. Với nhóm nghèo nhất thời, các chương trình mục tiêu giảm nghèo có thể không thực sự hiệu quả trong việc hỗ trợ, vì danh sách hộ nghèo cập nhật hàng năm và đôi khi phụ thuộc vào “chỉ tiêu” cấp trên giao… khi việc thoát nghèo hay rơi vào trạng thái nghèo lại diễn ra nhanh hơn dưới tác động của các cú sốc như mất việc, thiên tai, dịch bệnh…

Để giúp người nghèo thoát nghèo một cách bền vững và bảo vệ những người không nghèo bị rơi vào nghèo đói trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, theo các chuyên gia là phải tiếp cận đến vấn đề giảm nghèo một cách toàn diện như mở rộng cơ hội, giảm thiểu rủi ro và khả năng bị tổn thương và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực…đồng thời cần quản lý tốt hơn các rủi ro mang tính hệ thống ở cấp độ nền kinh tế và cấp độ hộ gia đình hoặc cấp từng cá nhân. Ở cấp hệ thống, cần cần xác định tốc độ tự do hóa tài chính phù hợp và xây dựng cơ chế giám sát, điều tiết hiệu quả; phòng ngừa bong bóng tài sản; nâng cao tính dễ tiên liệu và sự nhất quán giữa các chính sách tài khóa và tiền tệ, tăng tính linh hoạt của tỷ giá hối đoái. Ở cấp độ hộ gia đình và từng cá nhân, cần đổi mới và hoàn thiện các hệ thống an sinh xã hội như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chính sách đối với người cao tuổi… Đối với việc giảm nghèo nhóm đồng bào dân tộc thiểu số, cần có giải pháp tăng cường nguồn lực và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực với các chính sách tạo khả năng tiếp cận tốt hơn các dịch vụ xã hội, cơ sở hạ tầng, việc làm có thu nhập, giảm thiểu rào cản ngôn ngữ, cải thiện chất lượng giáo dục, tránh định kiến về năng lực…

Cũng theo các chuyên gia, công cuộc giảm nghèo chưa được hoàn tất và tiếp tục phải duy trì, vì trước mắt cần rất nhiều thời gian để giúp giảm nghèo một cách căn bản trong khi các hình thức nghèo mới có nhiều khả năng phát sinh và các hình thức nghèo hiện hữu khắc phục khó khăn hơn. Đơn cử tỉ lệ nghèo đô thị ở mức rất thấp, nhưng việc giải quyết vấn đề này rất khó khăn, song không cho phép được chậm trễ; bất bình đẳng về thu nhập ngày càng tăng do quá trình đô thị hóa, dẫn đến sự không đồng đều trong việc tham gia vào quá trình hoạch định chính sách, nảy sinh nhiều xung đột lợi ích giữa các nhóm; vấn đề biến đổi khí hậu… Đó là những vấn đề tác động đến nghèo đói phải được giải quyết với những giải pháp đồng bộ, kịp thời và phù hợp trong thời gian tới. 

 

(THXDVN)
Quay lại
Ý kiến của bạn
Tên bạn:  
Email:    
Tiêu đề:
 
File gắn kèm:
Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR
 
Các tin khác:
Tiêu điểm
Video Clips
Thư viện ảnh
Quảng cáo
Tin mới nhất
Hội chuyên ngành XD
>> Xem chi tiết danh sách
Hội viên tập thể
>> Xem chi tiết danh sách
Tìm kiếm

Liên kết web
Quảng cáo