9/14/2013 4:05:00 PM
Print: Print this Article Email: Share:
Việt Nam đang phát triển với nền kinh tế thị trường có nhiều thành phần kinh tế tham gia, lĩnh vực xây dựng cũng dần dần thu hút được các nguồn vốn và các dự án đầu tư xây dựng của các doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân nước ngoài vào Việt Nam.
TS. KTS. Lê Thị Bích Thuận
Phó Viện TrưởngViện Nghiên cứu Đô thị và Phát triển Hạ tầng

 

Việt Nam đang phát triển với nền kinh tế thị trường có nhiều thành phần kinh tế tham gia, lĩnh vực xây dựng cũng dần dần thu hút được các nguồn vốn và các dự án đầu tư xây dựng của các doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân nước ngoài vào Việt Nam. Mặt khác trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu, việc xây dựng các văn bản pháp luật về xây dựng để giúp cho các cấp các ngành quản lý tốt lĩnh vực xây dựng dần dần đưa các hoạt động của ngành xây dựng vào quỹ đạo chung, có sự quản lý của Nhà nước.

Luật Xây dựng 2003 đến nay đã gần 10 năm được áp dụng vào thực tế cuộc sống, là văn bản pháp lý cao nhất trong hoạt động xây dựng, đã tạo một hành lang pháp lý có hiệu quả để tất cả các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài lấy đó làm căn cứ pháp luật thực hiện. Cũng từ khi Luật Xây dựng có hiệu lực thì vấn đề đầu tư xây dựng được Nhà nước quản lý tách bạch và thiết lập được cơ chế quản lý rõ ràng hơn. Nhà nước quản lý các hoạt động xây dựng gồm công tác lập quy hoạch, lập dự án đầu tư, khảo sát, thiết kế, thi công, giám sát thi công, quản lý dự án, lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng và các hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình. Tuy nhiên trong thời gian qua có nhiều chính sách, đường lối cũng như chủ thể công trình có nhiều biến động làm cho Luật Xây dựng được ban hành năm 2003 không còn đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước nữa vì vậy việc sửa đổi là cần thiết.

1. Chương I: Những quy định chung

Về phạm vi điều chỉnh của Luật nên bổ sung làm rõ vấn đề quản lý các hoạt động đầu tư xây dựng. Về thuật ngữ cần làm rõ và phân biệt các khái niệm trong Luật này và Luật Quy hoạch đô thị: Quy hoạch đô thị - Quy hoạch xây dựng, Quy hoạch chung đô thị - Quy hoạch chung xây dựng; Quy hoạch nông thôn – Quy hoạch xây dựng nông thôn. Điều 46 quy định các bộ quản lý công trình chuyên ngành chỉ có 5 bộ là không đúng (vậy các công trình y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo… Bộ nào sẽ quản lý…). Điều 7 cần làm rõ năng lực hành nghề do cơ quan nào quản lý (hiện nay trôi nổi, các đơn vị hành nghề đều do Sở KHĐT cấp, trong khi đó không có ý kiến của đơn vị chuyên ngành về xây dựng, cần cân nhắc có nên cần thiết “ Giấy phép hoạt động xây dựng” cho các tổ chức và cá nhân đủ năng lực thực hiện các hoạt động xây dựng. Rà soát các câu thừa hoặc không có nội dung, ví dụ: Điều 8, mục 1: Đối với dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước thì chủ đầu tư xây dựng do người quyết định đầu tư quyết định (trước khi lập dự án đầu tư xây dựng hoặc sau khi dự án đã được người có thẩm quyền phê duyệt –bỏ); Điều 12 mục 3; Nhà thầu hoạt động xây dựng vượt quá điều kiện năng lực hành nghề xây dựng, năng lực hoạt động xây dựng; (bỏ) chọn nhà thầu hoạt động xây dựng không đủ điều kiện năng lực hành nghề xây dựng, năng lực hoạt động xây dựng để thực hiện công việc.

2. Chương II: "Quy hoạch xây dựng"

Phương án 1: Nên chuyển toàn bộ phần này để xây dựng thành một bộ Luật Quy hoạch bao gồm Luật Quy hoạch vùng, Quy hoạch nông thôn, Luật Quy hoạch đô thị.

Phương án 2: Trong giai đoạn chưa có Luật Quy hoạch vẫn đưa vào Luật Xây dựng nhưng có thể làm phụ lục và trong thời gian hoàn thiện Luật Quy hoạch được điều tiết trong Luật Xây dựng.

Một số điều, mục như yêu cầu và nguyên tắc đều sử dụng 70% giống nội dung trong Luật Quy hoạch đô thị. Nên làm rõ quy hoạch xây dựng trong nội dung này (có chi tiết đánh dấu kèm theo) Điều 32 cần có quy định rõ về điều chỉnh quy hoạch tránh điều chỉnh lại làm như quy hoạch mới hoặc lợi dụng việc điều chỉnh để hợp thức hóa các dự án đã phê duyệt không đúng quy hoạch. Các quy định về hồ sơ không cần đưa vào luật mà đưa vào các thông tư, nghị định.

Mục 4 về quy hoạch nông thôn, hiện nay năng lực cán bộ tại các địa phương còn rất hạn chế, việc giao cho các UBND lập nhiệm vụ và đồ án QHXD cần cân nhắc xem có đủ năng lực không? Nên việc này phải do UBND huyện thực hiện mới đảm bảo yêu cầu, chất lượng, tất nhiên vai trò của xã không thể thiếu được.

3. Chương "Dự án đầu tư xây dựng"

Trong Điều 41 có quy định dự án sử dụng nguồn vốn hỗn hợp cần có quy định sao cho khi sử dụng vốn nhà nước đầu tư cùng với vốn của các đơn vị cổ phần hay tư nhân phải thuận lợi vì với phương thức này khó điều hành khi đưa vào sử dụng bởi vì vốn cổ phần và vốn tư nhân thường phải được thông qua hội đồng cổ đông, khi không có sự thống nhất sẽ không thực hiện được.

Hiện nay đầu tư trong lĩnh vực tư nhân cũng rất lớn, có nhiều người dân hoặc tổ chức tư nhân xây dựng các khu nhà ở riêng lẻ, các khu trung tâm thương mại… vậy có quy định thế nào (mục 6) để vẫn thuận tiện cho nhà đầu tư nhưng cũng vẫn quản lý được các hoạt động xây dựng. Cũng cần có chế tài cho các bên chủ đầu tư, bên nhà thầu và bên quyết định đầu tư, lâu nay không có chế tài đó rõ ràng trong luật nên việc các chủ đầu tư nợ đọng nhà thầu, dẫn đến nhà thầu bị phá sản mà chủ đầu tư lại vô can... như vậy gây ra bất bình đẳng trong hoạt động xây dựng.

4. Chương "Khảo sát xây dựng và thiết kế xây dựng"

Nội dung này trong luật không nên quy định quá chi tiết, khó thực hiện, thậm chí lại thiếu như Điều 59, cần nêu các quy định chung.

5. Chương "Giấy phép xây dựng"

Nội dung này chỉ nên quy định các yêu cầu, trình tự và thủ tục cấp phép xây dựng chứ không nên quy định chi tiết của giấy phép xây dựng, các nội dung của giấy phép xây dựng sẽ có thông tư hướng dẫn riêng. Đặc biệt trình tự cấp phép xây dựng của từng cấp loại công trình cần được quy định trong nội dung này, hiện nay người dân lúng túng nhất trong trình tự này.  

6. Chương "Xây dựng công trình"

Chương này nên gọi là “Đầu tư xây dựng công trình”, tuy nhiên cũng quá nhiều điều quy định chi tiết, khó điều chỉnh khi đồng bộ hóa với các luật khác, cần đưa vào thông tư, nghị định thì dễ điều tiết hơn.

7. Chương "Chi phí đầu tư xây dựng và hợp đồng xây dựng"

Nên có quy định thẩm tra dự toán đối với các loại hay cấp công trình như thế nào? Do tổng số vốn lớn, do tầm quan trọng của công trình hay do nguồn vốn đầu tư. Trong mục hợp đồng xây dựng cần được đưa vào Luật điều khoản thưởng, phạt với việc thực hiện nghĩa vụ của cả hai bên ký kết hợp đồng, hiện nay các loại hợp đồng thường chỉ có các điều khoản bắt buộc cho bên B mà quên đi nghĩa vụ của bên A khi bên A là đại diện cho nguồn vốn nhà nước.

8. Chương "Điều kiện năng lực cá nhân, tổ chức hoạt động xây dựng"

Chương này nên đổi thành “Điều kiện hành nghề hoạt động xây dựng”, chương này nên quy định rõ năng lực của các tổ chức và các cá nhân khi hành nghề hoạt động xây dựng, nên có những quy định về cấp phép hành nghề xây dựng đối với tổ chức và cá nhân do cơ quan xây dựng cấp phép mà không phải cơ quan kế hoạch đầu tư. (loại tổ chức hoạt động xây dựng nào do Bộ Xây dựng cấp, loại tổ chức cá nhân nào do các Sở Xây dựng cấp,...) 

9. Kết luận

Trong quá trình sửa đổi Luật Xây dựng, nhiều nội dung cũng như khái niệm về quản lý các hoạt động xây dựng đã thay đổi căn bản về chất so với Luật Xây dựng cũ, vậy có nên coi là sửa luật hay ban hành Luật Xây dựng mới thay thế Luật Xây dựng cũ. Một số ý kiến đóng góp cho Luật Xây dựng theo sự phân công của Tổng hội XDVN, mong được hoàn thiện Luật Xây dựng phục vụ quản lý các hoạt động xây dựng.

Các tin khác

Thư viện hình ảnh

Hội chuyên ngành XD


Hội viên tập thể


Quảng bá doanh nghiệp