Khoa học, Công nghệ, Sản phẩm mới
Xu hướng khai thác không gian ngầm đô thị 27/03/2008

Trong Nghị định số 41/2007/NĐ-CP về xây dựng ngầm đô thị vừa được Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 22 tháng 3 năm 2007 ở điều 3 có một số qui định về sử dụng không gian ngầm đô thị; trong thời gian tới Bộ Xây dựng sẽ ban hành Qui chuẩn xây dựng công trình ngầm theo Nghị định nói trên.
Chắc rằng sẽ có nhiều lớp tập huấn để phổ biến và thực hiện Nghị định cũng như Qui chuẩn/tiêu chuẩn có liên quan đến xây dựng công trình ngầm đô thị cho cán bộ quản lý và cán bộ chuyên môn.
Trong bài này chỉ đề cập đến khía cạnh làm sao việc xây dựng công trình đô thị được đúng hướng và có hiệu quả nhất.
1. Các loại công trình ngầm
Có nhiều cách phân loại công trình ngầm nhưng cách dưới đây có tính phổ cập, dễ hiểu và được dùng ở Liên xô/Nga dựa vào chức năng và vị trí đặt công trình ngầm (nông/ sâu).
(1)Công trình giao thông:
- Hầm (tuy-nen) đường sắt:
+ Hầm qua đồi núi;
+ Hầm ngầm dưới nước (sông, suối...);
+ Hầm trong thành phố (tàu điện ngầm).
- Hầm cho đường bộ:
+ Hầm qua núi cho đường ôtô;
+ Hầm đặt sâu/ nông theo các đại lộ ở các thành phố;
+ Hầm ngầm dưới nước.
- Hầm giao thông chạy điện thuộc nội đô (tàu điện, xe buýt) kết hợp với ôtô.
- Hầm cho người đi bộ trong đô thị:
+ Hầm vượt ngầm, thẳng, dưới các đường phố đô thị;
+ Hầm vượt ngầm kiểu gian rộng trong thành phố.
- Gara và bãi đỗ xe ngầm:
+ Bãi đỗ và gara kiểu đường lăn (có lái xe đưa xe vào);
+ Bãi đỗ và gara được cơ giới hoá(không cần lái xe đưa xe vào);
+ Bãi đỗ kiểu hầm.
(2) Tàu điện ngầm:
- Tàu điện ngầm đặt sâu:
+ Hầm nối các ga;
+ Hầm nhà ga;
+ Hầm cho thang cuốn;
+ Các phòng có chức năng khác nhau;
+ Đường cụt và thiết bị đổi chiều;
+ Cửa loe của hầm;
+ Sảnh ngầm (chỗ trước khi xuống tàu điện ngầm);
+ Nút chuyển giữa các ga của tàu điện ngầm.
- Tàu điện ngầm đặt nông:
+ Hầm nối các ga;
+ Hầm nhà ga;
+ Phòng, đường cụt và thiết bị đổi chiều sảnh, ngầm;
+ Nút chuyển giữa các ga;
+ Cửa loe của hầm.
(3) Công trình kỹ thuật đô thị:
- Mạng lưới kỹ thuật:
+ Colectơ để cấp và thoát nước;
+ Colectơ để cấp khí đốt và nhiệt;
+ Hầm ngầm để đặt đường ống nước, cáp điện và cáp thông tin;
- Trạm bơm và xử lý nước:
+ Trạm bơm nhiều phòng ngầm;
+ Trạm xử lý nước thải, ngầm nhiều phòng;
+ Bể chứa nước đặt ngầm.
- Trạm điện ngầm:
+ Trạm biến thế cấp điện cho công trình hạ tầng đô thị;
+ Phòng nhận giữ các loại cáp thông tin.
(4) Công trình thuỷ điện và công trình năng lượng.
(5) Công trình có chức năng khoa học và sinh hoạt văn hoá:
- Cơ quan đào tạo và khoa học:
+ Phòng thí nghiệm phục vụ học tập;
+Thư viện và kho sách ;
+ Phòng thí nghiệm nghiên cứu khoa học (nơtrino, vật lý địa cầu,...);
+ Máy gia tốc prôton;
+Trạm theo dõi động đất.
- Công trình có chức năng văn hoá, xã hội thương mại:
+ Bảo tàng, nhà triển lãm;
+ Rạp chiếu phim, phòng hoà nhạc;
+ Nhà ăn, cửa hàng...;
+ Trung tâm thương mại;
+ Kho thực phẩm và sản phẩm công nghiệp.
(6) Công trình y tế thể thao:
- Cơ quan y tế thể thao:
+ Bệnh viện, cơ sở an dưỡng;
+ Phức hợp thể thao;
+ Sân vận động chơi hốc cây;
+ Bể bơi.
(7) Công trình có chức năng phòng thủ:
- Các xí nghiệp quốc phòng:
+ Nhà máy ngầm;
+ Điểm chỉ huy;
+ Hiện trường thử vũ khí;
+ Cơ sở tàu ngầm;
+ Hầm trú ẩn.
 (8) Bể chứa ngầm:
- Bể chứa dầu và sản phẩm dầu:
+ Bể chứa một ngăn;
+ Bể chứa nhiều ngăn.
- Bể chứa các chất thải phóng xạ:
+ Hệ thống hố chôn lấp nhiều ngăn;
+ Hệ chôn lấp kiểu xoắn ốc.
- Kho lạnh, kho chứa:
+ Kho lạnh giữ sản phẩm kim loại quí;
+ Kho giữ kim loại có giá trị và chứng khoán;
+ Bể chứa nước ăn.
2. Một số quan điểm về xây dựng công trình ngầm đô thị
Không gian ngầm dưới mặt đất sẽ được khai thác mạnh mẽ và rộng lớn hơn, theo ý kiến của giáo sư S.Pelizza, chủ tịch Hội Tuy - nen thế giới (ITA - International Tunnelling Association) do 3 nguyên nhân:
- Cải thiện điều kiện môi trường và chất lượng cuộc sống ở các thành phố lớn (giải quyết các vấn đề vận chuyển hành khách trong phạm vi thành phố, xử lý và làm sạch nước bẩn, đặt lại các colectơ);
- Sự chuyển dịch với khối lượng lớn nước ăn từ những vùng nhiều nước đến vùng ít nước và đến các trung tâm thành phố, nơi đó cần lưu lượng nước ăn khá lớn.
- Phát triển và cải thiện trên phạm vi toàn cầu, các phương tiện giao thông đường sắt, đường bộ với biện pháp bảo vệ môi trường tối đa.
 Tháng 9 năm 1998 tại hội nghị quốc tế có tiêu đề “ Thành phố ngầm: địa kỹ thuật và kiến trúc” tại Saint Petersburg với 4 tiểu ban: Thành phố ngầm và những quan niệm về phát triển; Thành phố ngầm và địa kỹ thuật; Thành phố ngầm và công nghệ địa kỹ thuật; Thành phố ngầm và sinh thái. Từ những vấn đề đó đã đưa ra các ưu tiên về sử dụng đất ở đô thị một cách tổng hợp như là:
- Sử dụng đất đô thị nhằm giải phóng các công trình trên mặt đất và xanh hóa môi trường đô thị;
- Bố trí thuận lợi nhất (dưới các đường phố, bãi đất hay dưới các quảng trường) các công trình mới thuộc hạ tầng đô thị nhiều chức năng, các trung tâm thương mại, nhà hàng ăn uống, kho chứa và các công trình khác, kể cả đặt ở các độ sâu khác nhau;
- Tạo ra hệ thống giao thông ngầm tốc độ cao (tàu điện ngầm, ôtô ngầm, tàu điện nhanh);
- Tổ chức vận chuyển không dừng giao thông trên mặt đất với sử dụng các đường vượt ngầm cho người đi bộ và dùng tuy nen giao thông, bãi đỗ xe và gara ngầm;
- Phát triển lưới kỹ thuật (đường điện, nước, cáp truyền hình, cáp thông tin ..vv..) với việc đào bới mặt đất là ít nhất;
- Bảo vệ cảnh quan thiên nhiên của đô thị và các tượng đài kiến trúc.
Như vậy, đất đô thị đã trở thành lĩnh vực có nhiều triển vọng và sinh lợi lớn trong nguồn tài sản quốc gia.
3. Xu thế khai thác không gian ngầm ở các đô thị
Việc khai thác không gian ngầm cần phải có trách nhiệm cao. Những giải pháp nào đó thiếu căn cứ trong lĩnh vực này đều dẫn đến những hậu quả to lớn và khó khắc phục. Đặc biệt trong quá trình xây dựng và khai thác công trình ngầm cũng làm hư hỏng những công trình ngầm và công trình trên mặt đất đang hoạt động, mặt đất bị lún hoặc bị sạt lở, ô nhiễm nước ngầm. Những công trình trên mặt đất cũng tác động lên công trình ngầm và làm hỏng chúng. Những hậu quả như thế thường khó tiên đoán.
Muốn phát triển bền vững các thành phố cần phải khai thác hợp lí không gian ngầm theo hướng: sử dụng tối ưu nhất nguồn đất, giữ gìn nó cho các thế hệ tương lai, rủi ro là ít nhất trong quá trình khai thác nó ở môi trường đô thị. Những vấn đề này không thể tự quyết định bởi người sử dụng mà cần có sự quản lý của nhà nước và cộng đồng.
Khai thác không gian ngầm sẽ được tiếp tục với cường độ cao trong thế kỷ XXI do không đủ chỗ cho cuộc sống con người cũng như do sự cần thiết tạo nên môi trường sống mới của con người và tăng cường hạ tầng kỹ thuật đô thị.
ý nghĩa xã hội của công tác khai thác không gian ngầm, trước tiên ở việc tăng mức độ an toàn chuyển động trong đường ngầm, đảm bảo độ linh hoạt và tiết kiệm thời gian cho con người, giữ gìn thiên nhiên và cảnh quan.
Thời gian gần đây trên thế giới, việc tạo ra công trình ngầm thế hệ mới đặc biệt được lưu ý. Khi xây dựng những cụm công trình như vậy, không những người ta sử dụng công nghệ cao mà còn tạo nên cảnh quan kiến trúc công trình thoả mãn các yêu cầu thẩm mỹ cao, các điều kiện an toàn và tiện nghi cho sự có mặt của con người trong đó. Ví dụ, trên công trường xây dựng công trình đường tàu điện ngầm Singapore, công nghệ mở hầm không cần thuốc nổ kết hợp phá vỡ phún thạch trong đất sét bằng các nêm thuỷ lực đã được sử dụng. Để gia cường đất sét mềm aluvi, người ta đã sử dụng rộng rãi việc phụt vữa hoá chất áp lực cao, các thành phần gia cường bằng silicat hoá. Nơi tuyến đường tàu điện ngầm đi qua lân cận móng các ngôi nhà dân dụng, khách sạn... Trong kết cấu ray đường ngầm, người ta sử dụng chi tiết “ các tấm nối “ để giảm tiếng ồn và rung. Hình dáng kiến trúc của ga được thực hiện với sự phối hợp màu sắc dân tộc Trung Quốc kết hợp với tượng đài kiểu cách hiện đại. Để hoàn thiện ga, người ta sử dụng cả vật liệu thiên nhiên lẫn vật liệu nhân tạo (kim loại và kính) . Do khai thác các đoạn ngầm công trình tàu điện ngầm Singapore trong điều kiện khí hậu nhiệt đới nên cần phải làm lạnh không khí trên ga, sân ga được tách khỏi đường ray bằng các vách ngăn có cửa mở tự động. Điều đó cho phép giảm chi phí năng lượng làm mát không khí đến 70%.
Ngày nay trên thực tế thế giới, công tác xây dựng công trình ngầm đã thay đổi về chất, có thể đặc trưng như một bước nhảy vọt trong khai thác kỹ thuật mới và công nghệ cao xây dựng ngầm: các đường ngầm được xây dựng dưới biển Manche, hơn 60 đường sắt ngầm ở Đức được xây dựng với tốc độ nhanh, các đường hầm xuyên núi cũng bắt đầu được xây dựng. ở nhiều nước đã ứng dụng các phương pháp rất mới mở hầm trong các điều kiện địa chất khác nhau, soạn thảo và ứng dụng các máy liên hợp và khiên mở hầm mới năng suất cao, tạo nên các tổ hợp tự động để khoan các lỗ và bố trí vì chống trong đường ngầm, tạo nên các vật liệu và dạng vỏ hầm mới...
Công nghệ cao, các giải pháp mới trong kiến trúc đảm bảo cho tổ chức không gian ngầm thực hiện các chức năng nhất định, gián tiếp, bằng cách bố trí, tổ hợp và hợp khối các phòng ngầm, các giải pháp kết cấu quy hoạch kiến trúc kinh tế và đơn giản, nội thất hấp dẫn. Với việc ứng dụng công nghệ cao trong các nước khác nhau, các công trình ngầm thế hệ mới đã được xây dựng, chúng là mảnh đất để thực hiện hàng loạt các sơ đồ công nghệ, trong đó có các khoang thiết diện lớn, các bến đỗ ngầm cũng như tăng độ ổn định của hầm đào. Sự tiếp nhận kiến trúc công trình ngầm có ý thức hay không ý thức là yếu tố quyết định ảnh hưởng đến quan hệ của con người đối với việc sử dụng không gian ngầm. Các chuyên gia lưu ý những ảnh hưởng có ích của kiến trúc không gian ngầm lên trạng thái tinh thần của con người nhờ tổ chức hiệu quả không gian, lựa chọn màu sắc, ánh sáng và âm thanh.
Sự phát triển xây dựng ngầm diễn ra mãnh liệt hoặc thầm lặng mà lại không nằm trong khuôn khổ khái niệm do kết quả tổng hợp các kinh nghiệm thường ngày tạo ra trong một thời gian dài. Mở hầm bằng khiên, ứng dụng rộng rãi phương pháp mở hầm mới của áo (NATM) trong bất kỳ điều kiện địa chất nào và các thành tựu hiện có trong xây dựng ngầm đã thay đổi các quan niệm cũ. Mức độ quan trọng của các yếu tố và hiện tượng đó không thể đánh giá hết được.
Vào đầu thế kỷ XXI đã xảy ra sự thay đổi các giai đoạn trong khai thác không gian ngầm. Các phương pháp xây dựng ngầm đã rất phức tạp. Ngày nay sự thành công khai thác không gian ngầm không những phụ thuộc vào các thành tựu công nghệ địa kỹ thuật xây dựng mà còn phụ thuộc rất nhiều vào khả năng kỹ thuật và tài chính xây dựng.
Những vấn đề liên quan khi khai thác không gian ngầm ở đô thị cần chú ý là:
(1) Khai thác / sử dụng không gian ngầm phải phù hợp với phát triển xã hội, kinh tế và môi trường ;
(2) Khai thác không gian ngầm để hoàn thiện hơn nữa công năng của thành phố; xây dựng các đô thị ngầm (ngầm hoá);
(3) Quy hoạch thành phố phải kết hợp chặt chẽ với sử dụng không gian ngầm;
(4) Sử dụng không gian ngầm có độ sâu khác nhau;
(5) Xác định trình tự khai thác không gian ngầm có căn cứ khoa học, kết hợp trước mắt và lâu dài.
Những vấn đề nêu trên không chỉ có tính chất kinh tế - kỹ thuật mà còn rộng hơn như là:
Vấn đề kinh tế: đắt hơn xây dựng trên mặt đất từ 2 - 3 lần, phí quản lý kinh doanh cao hơn, xem xét kỹ nguồn tài chính;
Vấn đề pháp luật: lớn nhất là quyền sở hữu và ranh giới quyền sở hữu mặt đất và tài nguyên đất dưới sâu...;
Vấn đề hành chính: phạm vi quyền hạn và trách nhiệm quản lý hành chính phức tạp, như yêu cầu về phòng cháy cao cần có tiêu chuẩn mới, hay như độ dài qui hoạch không dễ xem nhẹ, kết hợp qui hoạch trên và dưói mặt đất cần có tầm nhìn chính xác và ổn định vì nó là một thể hữu cơ;
Vấn đề môi trường: tâm lí người sử dụng lo lắng về cháy nổ và an toàn, thay đổi điều kiện thuỷ văn... sẽ có liên quan đến môi trường sinh thái, giảm thiểu các tác động có hại đến môi trường, bảo vệ môi trường, trái đất;
Vấn đề kỹ thuật: thay đổi lớn về kỹ thuật, qui mô tăng, điều kiện thi công phức tạp yêu cầu độ chính xác trong thi công cao, giảm lực lượng lao động, nhân khẩu lão hoá tăng, nên cần phải tinh và hướng sử dụng kỹ thuật tự động (không có người thao tác ).
Nhiều chuyên gia đô thị nói: “Khai thác không gian ngầm chính là vì để khai thác không gian trên mặt đất tốt hơn, là sự bổ sung tất yếu có lợi cho không gian trên mặt đất”.
Về mặt địa kỹ thuật trong xây dựng công trình ngầm người ta đã giải quyết những vấn đề sau đây :
Chống đỡ hầm bằng ống (tubin) bê tông cốt thép chống thấm;
Mở rộng phạm vi sử dụng các vỏ chống thấm có kết cấu khác nhau và ứng dụng bê tông phun dựa trên tổ hợp rôbốt;
Cấu tạo loại khiên đào hoàn thiện hơn và thay đổi thi công theo phương pháp NATM để xây dựng tuy nen và phòng có tiết diện lớn;
ứng dụng ra-đa địa chất trong quan trắc địa kỹ thuật;
Mở rộng áp dụng vỏ hầm chống thấm và chống cháy và hệ thống máy móc gia cố đất bằng bơm phụt để ngăn ngừa sụt lún mặt đất;
Dùng vật liệu mới để trang trí mặt trong của hầm;
Tạo và ứng dụng hệ thống mới về thông gió và chống cháy và phương tiện giải thoát người khi xảy ra tình trạng khẩn cấp.
Tóm lại, khai thác không gian ngầm với mục tiêu tăng trưởng sự thuận tiện cho con người, nâng cao mức sống của họ và tạo nên môi trường sống mới bằng cách gián tiếp thực hiện những chức năng sau:
Tạo nên những hạ tầng cơ sở ngầm lớn và các công trình ngầm như: tạo lập đô thị và tích hợp các hệ địa kỹ thuật lớn phức tạp kết hợp các giải pháp, phương án kỹ thuật và kiến trúc (Int);
Xây dựng công trình ngầm thế hệ mới kết hợp sử dụng công nghệ cao, các giải pháp quy hoạch không gian, kết cấu, kiến trúc, điều khiển tính chất của nền đất (Cpt);
Sử dụng rộng rãi hơn các tính chất của nền đất và điều khiển các tính chất của công trình ngầm (Gn);
ứng dụng các định hướng và thành tựu mới trong xây dựng ngầm (A);
Tìm kiếm các dạng hệ địa kỹ thuật mới (Ge);
Tăng mức độ an toàn trong xây dựng ngầm, trong đó ngăn ngừa độ lún bề mặt (B);
ứng dụng kiểm tra và nghiên cứu địa cơ học cấu trúc và tính chất của nền đất (Ic);
Tăng cường chất lượng công trình ngầm và chất lượng cuộc sống con người (K);
- ứng dụng các tổ hợp cơ giới mới, các máy liên hợp và phương pháp mở hầm của áo (NATM - Pr)
Chiến lược khai thác không gian ngầm cũng như công trình quản lý, có thể trình bày theo dạng tổng hoà liên tiếp các hàm trong sơ đồ thao tác mô hình thuật toán;
Ctr = Int. Cpt.Gn.A.Ge.B.Ic.K.Pr
Trong đó:
Ctr - chiến lược khai thác không gian ngầm ;
Int-Pr- các hàm (dạng khai thác không gian ngầm).
Điều chỉnh khai thác không gian ngầm được thực hiện nhờ các tiểu hệ thống mục tiêu, mỗi tiểu hệ thống trong đó đảm bảo tổ hợp điều khiển để đạt mục tiêu hoạt động chính (xí nghiệp, hãng...) bằng cách tích hợp hoặc toạ độ hoá việc thực hiện các chương trình đặc biệt, hướng tới các mục tiêu cụ thể của công trình quản lý trong thời hạn nhất định.
Chiến lược khai thác không gian ngầm ứng với “vấn đề cấu trúc yếu“ chỉ được hình thành từng phần và yêu cầu sự đánh giá nội dung và giám định đối với lời giải của mình. Điểm đặc biệt của chiến lược khai thác không gian ngầm nằm ở chỗ có thể biểu thị chúng bằng sự phân tán nhiều hàm điều khiển (các hướng cơ bản sử dụng không gian ngầm) trong số lượng rất nhiều đó được tiến hành chia nhỏ, không rõ ràng. cũng như không rõ cả sự đánh giá hiệu quả thực hiện chức năng theo hướng này hay hướng khác, còn hiệu quả chung, do sự phân tán, không đánh giá được bằng tổng các hiệu quả cục bộ.
Các quá trình khai thác không gian ngầm được tiến hành chậm chạp, không phải lúc nào cũng có tổ chức, nhưng tất cả đều tích cực. Ngày nay trong công tác xây dựng các công trình ngầm được tiến hành trên toàn cầu. Lần đầu tiên trong lịch sử, các đồ án đó được thực hiện trong kết quả tiếp cận hợp lí việc sử dụng tổng hợp nguồn dự trữ ngầm với mục đích tạo nên môi trường sống mới. Khai thác không gian ngầm, định hướng mới, có tương lai và hiệu quả tận dụng nguồn dự trữ lòng đất, còn qui luật phát triển của nó là khách quan, có nền móng và chỉ rõ nơi và cách tìm kiếm cái mới cũng như tiến tới cái gì trong tương lai.
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Văn Quảng, Nguyễn Đức Nguôn - Tổ chức khai thác không gian ngầm, NXB Xây dựng, Hà Nội 2006.
 2. Petrenko EV. et al. Main Scientific and technological trends in the development of underground structural complex created for the purpose of underground spase reclamation - World underground space, No 5, 2003.
3. Sử dụng không gian ngầm đô thị (Tiếng Trung Quốc) NXB Đại học Đồng Tế Thượng Hải năm 2002.
4. Nguyễn Bá Kế. Xây dựng công trình ngầm đô thị bằng phương pháp đào mở. NXB Xây dựng, Hà Nội, 2006.

Nguyễn Bá Kế


Các tin khác
Một số vấn đề về kết cấu tháp cao tầng bằng thép ( 04/04/2008 )
Nguyên lý làm việc của vì neo gia cường khối đá ( 04/04/2008 )
Năng lực của lòng đất và sự khai thác dành cho nhà cao tầng ( 27/03/2008 )
Ứng dụng công nghệ mới làm đê, kè chống ngập, úng ( 27/03/2008 )
BREEAM, GBC Và LEED, các hệ thống đánh giá kiến trúc xanh trên thế giới ( 27/03/2008 )
Độ chống thấm của vữa và bê tông hạt nhỏ ( 27/03/2008 )
Móng cọc nhồi đường kính lớn mở rộng đáy (tiếp theo) ( 27/03/2008 )
Các giải pháp cấu tạo tăng cường khả năng ổn định cho công trình kiến trúc chịu sự tác động của gió bão và những đề xuất mới phù hợp trong điều kiện Việt Nam ( 27/03/2008 )
ĐHXD- Trung tâm hợp tác đào tạo và Tư vấn quốc tế Năng động và phát triển ( 27/03/2008 )
Hiệp Hội Tư vấn xây dựng Việt Nam (VECAS) với nhiệm vụ năm 2007 ( 27/03/2008 )
Cuộc tranh luận khoa học kéo dài hơn 25 năm đã đến hồi kết ( 27/03/2008 )
 Tin mới nhất

Lộ trình đổi mới R&D Xây dựng và giao thông Hàn Quốc

Những năm qua, Hàn Quốc đã mở rộng rất nhiều đầu tư trong nghiên cứu và phát triển (R&D) khoa học và công nghệ và đã đạt được thành tựu có ý nghĩa. Bắt đầu như là một dự án hợp tác R&D công nghiệp – hàn lâm tháng 12/1994, dự án R&D công nghệ xây dựng và giao thông đã dần dần phát triển ra tổng số 16 dự án bao gồm “Dự án Nghiên cứu và Phát triển công nghệ xây dựng trọng điểm” năm 2006 với vốn Nhà nước được chi cho các dự án từ 1,2 tỷ won lên 262 tỷ won.


Thông báo về việc triệu tập đại hội lần thứ VI của Tổng Hội XDVN

Căn cứ vào Nghị quyết hội nghị BCH TW Tổng Hội XDVN lần thứ V khoá V ngày 6/12/2007, Đoàn Chủ tịch Tổng Hội XDVN đã có quyết định và thông báo về việc tổ chức đại hội khoá VI của Tổng Hội vào ngày 21/8/2008. Đoàn Chủ tịch Tổng Hội đã lập đề cương tổ chức đại hội và ra quyết định thành lập Ban Tổ chức để chuẩn bị đại hội.


Các đề tài NCKH của Tổng Hội được duyệt trong năm 2008

Theo công văn số 02/BXD-KHCN ngày 7/1/2008 của Bộ Xây dựng, về kế hoạch khoa học công nghệ và môi trường ngành xây dựng năm 2008, ban hành theo quyết định số 1535/QĐ-BXD ngày 28/12/2007 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng, Bộ Xây dựng thông báo chính thức các đề tài mà cơ quan thực hiện là Tổng Hội XDVN trong năm 2008 gồm 2 đề tài, đó là:


10 sự kiện quan trọng của Hội Môi trường đô thị Việt Nam năm 2007

1. Trong thời gian từ 28/2~13/3/2007, Hội đã cử 30 thành viên tham quan, học tập và trao đổi kinh nghiệm về xử lý chất thải công nghiệp và bảo vệ môi trường  ở Nhật Bản.
2. Đã tổ chức hội nghị BCH lần thứ 7 khoá II tại TP Hồ Chí Minh vào ngày 15/6/2007


Hoạt động của Hội Kết cấu và Công nghệ xây dựng Việt Nam

Họp Thường trực BCH
Ngày 19/1/2008, Hội đã họp hội nghị Thường trực BCH do Chủ tịch Hội, GS. TSKH. Nguyễn Văn Liên chủ trì. Hội nghị đã quyết định một số công tác quan trọng trong năm 2008.


Hội Xây dựng Hà Nội họp tổng kết công tác năm 2007

Sáng ngày 26/1/2008 tại Hội trường Công viên Bách Thảo, Hội Xây dựng Hà Nội đã họp hội nghị Tổng kết hoạt động năm 2007 với sự tham dự của các uỷ viên BCH Hội, lãnh đạo các chi hội cùng đại diện các Hội bạn. GS.TS. Nguyễn Mạnh Kiểm Chủ tịch Tổng hội XDVN và Phó Chủ tịch UBND Hà Nội Nguyễn Văn Khôi đã đến dự Hội nghị.