Quy hoạch, Kiến trúc, Đô thị và Xã hội
Tổ chức điều tra, quy hoạch và quản lý xây dựng các công trình ngầm ở TP. Hồ Chí Minh 04/04/2008

I.- Công trình ngầm của Thành Phố  có những gì?              
- Các loại hệ thống công trình ngầm kỹ thuật hạ tầng: hệ thống các đường ống cấp nước, hệ thống các đường cống xây và các đường ống thoát nước, hệ thống các đường hầm, đường ống chứa cáp thông tin bưu điện, cáp truyền truyền thanh, cáp truyền hình, hệ thống các đường hầm, đường ống chứa cáp điện, hệ thống chuyển sản phẩm, hàng hoá, chứa hàng hoá như công trình ngầm dưới nhà máy bia, các hầm xăng, dầu, các kho vật liệu nổ  
Các nhà lãnh đạo đến cư dân thành phố, ai cũng từng biết rằng, công trình ngầm dưới mặt bằng thành phố từ thời Nhà Nguyễn xây dựng Quy thành, đến thời thuộc Pháp đã có những công trình kỹ thuật hạ tầng đến nay già cỗi, mục ruỗng, gãy rời, rỉ sét đặc cứng  đã mất tính liên thông hệ thống mà chưa được thay thế, đến thời Mỹ- nguỵ công trình ngầm được sửa chửa chút ít và phát triển công trình kỹ thuật hạ tầng ở các địa phương được đô thị hoá mở rộng. Và sau ngày thành phố được giải phóng, cùng với tốc độ phát triển dân cư  nhanh chóng (khoảng 3 triệu ở năm 1975 lên tới hơn 7 triệu người hiện nay) thành phố đã cải tạo, tu bổ, phát triển một khối lượng kỹ thuật hạ tầng khổng lồ và ngày càng hiện đại.
Đó là chỉ đề cập khối lượng công trình kỹ thuật hạ tầng  phục vụ dân sinh. Ngoài ra còn một khối lượng công trình kỹ thuật hạ tầng  quân sự , chắc cũng không nhỏ.
Vài năm gần đây, do dân số tăng nhanh, cuộc sống phát triển, nhu cầu về sử dụng diện tích mặt bằng phát sinh, đòi hỏi phải xây dựng nhiều chung cư, cao ốc chọc trời thi nhau vươn cao , mà vẫn chưa thoả mãn về diện tích sử dụng nên phải xây tầng ngầm. Tầng ngầm làm kho hàng, kho xe, hầm ngầm chui qua đường, qua sông như hầm ngầm vượt sông Sài Gòn đang thi công; Trong tương lai gần các tuyến mê-trô dưới lòng đất đi từ trung tâm thành phố đến các quận ven đô, như tuyến mê-trô Bến Thành - Suối Tiên sẽ được khởi công tất cả các hệ thống này hình thành một hệ thống công trình ngầm mới, hiện đại. Thành phố hình thành phong trào xây dựng công trình ngầm trong khi thiếu kiến thức, thiếu kỹ thuật, thiếu các văn bản pháp quy về xây dựng sử dụng công trình ngầm thì phong trào này có thể trở thành tai hoạ khó tránh khỏi cho cư dân thành phố  mà công trình cao ốc Pacific là một thí dụ điển hình.
II.- Tai họa đã xảy ra và có thể còn sảy ra do duy ý chí, thực dụng nhưng lại thiếu các loại tài liệu địa chất, kiến thức kỹ thuật thi công thích hợp trong xây dựng công trình ngầm
 1. Giữa năm 2006, việc đào móng xây tầng hầm của công trình The Manor Phase II đã làm cho 18 nhà dân thuộc tổ 36, khu phố 4, phường 22, quận Bình Thạnh lún sụt, nứt tường vách, đứt khung bêtông chịu lực, dứt gãy các công trình kỹ thuật hạ tầng như  các rãnh thoát nước, lún nền móng nhà xung quanh, nhà cửa  nghiêng về phía công trình The Manor, đe doạ tính mạng người dân khu vực nói trên.
2/ Sự cố xây tầng hầm của cao ốc Pacific, không những đã làm sập toà nhà Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ ngày 9 tháng 10 năm 2007 bên cạnh, thiệt hại nhiều tài liệu lưu trữ vô giá cùng tài sản, mà còn làm sập lan rộng đến mảng tường tiền sảnh của Sở Ngoại vụ, tiếp tục đe doạ gần 40 phòng làm việc và hội họp của Sở này!
3/ Việc thi công đào đất để xây dựng tầng hầm công trình cao ốc Saigon Residences ở góc đường Nguyễn Siêu-Thi Sách vào chiều ngày 31-10-2007 làm sụp lún vỉa hè sát chung cư Cosaco cao 6 tầng, số 5, Nguyễn Siêu, phường Bến Nghé, làm rơi 4 người và xe gắn máy xuống hố sâu 6 - 7 tấc, hố tiếp tục lún sâu hơn 2 mét làm sụt một cột điện, một cây xanh, liền sau đó chung cư Cosaco rung chuyển rồi nghiêng hẳn sang trái, làm hãi hùng hàng trăm người thuộc 20 hộ đang sống trong chung cư, phải chạy ra ngoài, phải sơ tán ở nhờ chung cư khác, đồ đạc đổ vỡ, may mà chưa gây chết người !
4/ Còn nhiều vụ việc đào sâu làm tầng hầm của nhiều công trình xây dựng của các cơ quan, trường học, công ty, nhà dân, đường sá, làm rạn nứt, lún sụt, phương hại đến các công trình cũ, công trình đang sử dụng lân cận mà chỉ tu sửa dặm vá,chưa giải quyết thoả đáng hoặc hòa giải, đền bù giữa chủ công trình mới và các hộ dân lân cận có nhà bị hư hại.
III Đôi điều nên biết
Muốn tránh các sự cố nguy hại không thể lường trước khi xây dựng dưới lòng đất, phải hiểu rằng, xây dựng các công trình ngầm là một đặc thù không giống với xây dựng trên mặt đất, mọi công việc lao động thi công được tiến hành trong không gian chật hẹp, thiếu ánh sáng, thiếu thoáng mát, điều kiện cung cấp vật liệu vô cùng khó khăn, phức tạp.
ở thành phố Hồ Chí Minh còn khó khăn hơn bởi địa chất kiến tạo, địa chất  công trình và địa chất thuỷ văn thuộc vùng phù sa bồi lắng, đất yếu, ngậm nước, xen kẽ là các luồng cát chảy, lạch của các con sông xưa đã bị đổi dòng  mà bề mặt là nắp trấp, còn dưới là dòng đất bùn nhão pha cát, lẫn mùn cây cỏ, không có độ dính kết, độ ma sát ít, độ rắn rất kém, độ chịu lực yếu, góc yên nghỉ nhỏ. Không khảo sát kỹ, không đủ tài liệu địa chất, thi công đào  rỗng  chỗ này, làm mất thăng bằng chỗ khác, dễ sạt lở, lại bị áp lực của các công trình cũ xung quanh, móng và tầng hầm mới được đào ta-luy dốc đứng, sớm muộn sẽ sập lở và sập lở lan rộng.
Đã có công trình khảo sát các tính chất cơ lý đất nền móng khi đào xuống sâu hay chưa? Ví dụ Dự án xây dựng kho ngầm chứa xe dưới công viên Lê Văn Tám, đã dựa vào điều kiện địa chất thuỷ văn nào và tính chất cơ lý đất cụ thể khu vực để tính góc yên nghỉ của thành hào khi đào xuống sâu để xem phạm vi sạt lở đến đâu hay chưa? Nếu chưa nghiên cứu mà nóng vội, tiến hành thi công đào xuống sâu 4 tầng, 5 tầng có thể sạt lở lan ra tận đường Hai Bà Trưng, Điện Biên Phủ, Võ Thị Sáu, Đài Hoa sen tương tự hậu quả của việc đào tầng hầm cao ốc Pacific! Xin nhắc lại, xây dựng công trình ngầm có đặc thù, có yêu cầu kỹ thuật chuẩn bị và kỹ thuật thi công thích hợp riêng của nó.
Kỹ thuật xây dựng công trình ngầm có đặc thù, không hoàn toàn giống như kỹ thuật  xây dựng trên mặt đất. Nhất là xây dựng trong điều kiện đã và đang có các loại công trình kỹ thuật hạ tầng lắp đặt hàng thế kỷ đến nay. Các công trình xây dựng ấy khác nhau về tầm cỡ kích thước, kỹ thuật và tuổi thọ. Đồng thời  trên mặt đất chung quanh công trình ngầm này còn biết bao nhà cửa, nhiều loại công trình kỹ thuật hạ tầng. Vì vậy, muốn xây dựng các công trình ngầm, nhất thiết phải có quá trình điều tra, thu thập tài liệu quá khứ và hiện tại, am hiểu đầy đủ tài liệu kỹ thuật cần thiết làm căn cứ cho việc quy hoạch, thiết kế, thi công và bảo vệ công trình và không thể bỏ qua nội dung chi phí bảo vệ các công trình hiện hữu xung quanh nó.
IV.- Một số tài liệu làm căn cứ cho dự án xây dựng công trình ngầm dưới mặt đất
1/ Tài liệu địa chất khoáng sản của khu vực: Để biết được vùng sẽ xây công trình ngầm có những loại đất đá nào, tính chất cơ, lý, hoá của từng loại đất đá như là trọng khối, tỷ trọng, độ cứng, độ dính kết, góc ma sát, góc yên nghỉ.
2/ Tài liệu địa chất công trình trên bản đồ cùng mặt cắt địa chất công trình tỷ lệ lớn, và các dữ liệu, thông số kỹ thuật cần thiết thích hợp với phạm vi công trình liên quan.
3/ Tài liệu địa chất thuỷ văn: độ ẩm, độ thẩm thấu, mực nước ngầm, lưu lượng, tốc độ nước ngầm.
4/ Bản đồ tỷ lệ lớn về địa hình và bản đồ các loại công trình ngầm, cần tỷ lệ 1/500, 1/200, 1/100 của khu vực sẽ cung cấp toạ độ, độ cao mặt đất vùng khảo sát, thiết kế và thi công: đường sá, cầu cống, công trình kỹ thuật hạ tầng cấp, thoát nước, điện, bưu điện, kho tàng, nhà ở.
5/ Các tài liệu lịch sử đã và đang có liên quan đến việc khảo sát, thiết kế, thi công, sử dụng  và bảo vệ công trình xây dựng tại điạ điểm khảo sát, thiết kế, thi công và vùng lân cận, những sự cố đã từng xảy ra trong quá khứ, các tài liệu trong nước và nước ngoài về các công trình xây dựng tương tự về điều kiện tự nhiên và xã hội để tham khảo.
6/ Hồ sơ thiết kế sơ bộ công trình để làm căn cứ xem xét, đối chiếu, kiểm điểm  các yếu tố kể trên; những ý kiến nhận xét và kiến nghị của các cơ quan thẩm quyền về hồ sơ đó.
V.- Cần thiếp phải xây dựng hệ thống dữ liệu phục vụ việc quản lý xây dựng công trình ngầm
Muốn đảm bảo có đủ tài liệu làm căn cứ cho các dự án xây dựng công trình ngầm, các cơ quan chức năng như Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên Môi trường, Sở Kiến trúc và Quy hoạch, Sở Giao thông Công chính nhất là công ty cấp nước và công ty thoát nước đô thị, Sở Điện lực, Sở Bưu điện là các cơ quan cần phải xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên ngành, sau đó liên kết lại, hình thành một cơ sở dữ liệu chung cấp thành phố, Uỷ ban nhân dân thành phố uỷ nhiệm cho một cơ quan chức năng quản lý và sẵn sàng cung cấp đầy đủ tài liệu cần thiết cho yêu cầu của công tác lập dự án, quy hoạch, thiết kế, thi công, giám sát thi công.
Hiện nay, có thể Uỷ ban nhân dân thành phố ban hành một quy chế, quy định bổ sung chức năng nhiệm vụ và dành thêm một khoản kinh phí đủ cho Sở Xây dựng, mà cụ thể là bổ sung chức năng nhiệm vụ cho Trung tâm thông tin và dịch vụ xây dựng, trực thuộc Sở, phải là trung tâm khảo sát thực địa, đồng thời sưu tập tài liệu, dữ liệu đã và đang có từ các Sở, Ngành, Đơn vị, thu thập, xử lý, hệ thống lại, không ngừng cập nhật, lưu trữ và sẵn sàng cung cấp tài liệu, dữ liệu cho nhu cầu của các đơn vị thiết kế, thi công, giám sát, giám định các công trình. Như vậy, để đáp ứng nhu cầu dữ liệu phục vụ phát triển cõi âm của thành phố, Trung tâm thông tin và dịch vụ xây dựng thuộc Sở Xây dựng cần thiết trở thành cơ quan tập hợp, xử lý, hệ thống hoá, đảm bảo tính chất khoa học, kỹ thuật và pháp lý, lưu trữ và cơ quan chức năng cung cấp hầu hết nội dung cơ sở dữ liệu nói ở mục IV trên đây.
Đó là trách nhiệm của các cơ quan chức năng của thành phố. Một thành phố lớn và đang phát triển kiến thiết cơ bản và phát triển kỹ thuật hạ tầng  mà tỷ trọng kỹ thuật hạ tầng dưới ngầm đã, đang và sẽ chiếm tỷ lệ lớn vì yêu cầu văn minh hiện đại, thì không thể thả nổi việc quản lý kỹ thuật hạ tầng và việc phát triển xây dựng với tốc độ nhanh các công trình kiến trúc dưới mặt đất.
Tuy nhiên dù có một cơ quan quản lý đầy trách nhiệm và một cơ sở dữ liệu dồi dào đến đâu cũng không thể đáp ứng nhu cầu tài liệu phục vụ chi tiết đầy đủ cho mọi nội dung thiết kế công trình nói chung và nói riêng cho công trình kiến trúc dưới ngầm. Và tài liệu nhận từ cơ quan chức năng của Thành phố cung cấp cũng chỉ đáp ứng một phần ít vì vùng này chưa được khảo sát, thu thập dữ liệu hoặc may mắn được cung cấp khá nhiều số liệu, tài liệu phù hợp sử dụng vào quy hoạch, thiết kế, thi công công trình của mình. Lại có một số trường hợp, tài liệu được cơ quan chức năng cung cấp không thật phù hợp, chưa thật cụ thể, chưa đủ mật độ, do đó chỉ đáng làm tài liệu tham khảo mà thôi. Vì vậy các chủ đầu tư và nhất là các đơn vị thiết kế và đơn vị thi công nhất thiết phải tiến hành khảo sát, ít nhất là khảo sát bổ sung, cập nhật chi tiết đáp ứng cho nhu cầu chi tiết cụ thể về lập dự án, thiết kế và thi công  công trình của chính mình.
Và để tiết kiệm cho xã hội, nâng cao hiệu quả sử dụng các tài liệu khảo sát, cần có quy chế của Uỷ ban nhân dân thành phố về, các tài liệu mới khảo sát được dùng cho công trình cần nộp lưu chiểu vào kho dữ liệu của cơ quan chức năng nói trên đây, góp phần làm giàu kho lưu trữ dữ liệu khảo sát xây dựng của thành phố. Đây cũng là một nội dung quản lý xây dựng nói chung và quản lý xây dựng công trình ngầm.
Một nội dung thiển nghĩ nữa xin được nêu, đất nền cứng chắc của thành phố Hồ Chí Minh có diện tích không lớn thuộc huyện Củ Chi, huyện Hóc Môn, quận Thủ Đức, quận Tân Bình, quận Tân Phú, quận Bình Tân, còn lại phần lớn nền đất thành phố, trong đó có cả nhiều vị trí thuộc các quận huyện kể trên, là nền bồi lắng mới, cát pha ít đất lẫn mùn, có lưu lượng nước ngầm lớn, nhất là nền gần sông rạch, một số địa điểm chỉ do rác lấn ao, hồ, vịnh, khúc quanh sông rạch đổi dòng mà cấu tạo thành mặt đất, một số vùng nền đất là cát lưu tán, có nghĩa là cát chảy. Do đó, tính chất cơ lý của nhiều vùng nền  đất rất yếu. Tại các đô thị của các nước phát triển, muốn xây dựng công trình dưới mặt đất nền yếu, người ta phải xây tường chắn chịu lực để bảo vệ nền xung quanh công trình, thậm chí, ở nơi nền cát chảy phải xây đáy công trình ngầm, trước đó phải dùng biện pháp đánh đông bơm hỗn hợp sinh hàn làm đông cứng cả vùng nền để thi công tường chắn và đáy móng công trình xây dựng dưới ngầm, rất tốn kém. Do đó, ngoài việc thực hiện các công trình kỹ thuật hạ tầng về cấp nước, thoát nước, cung cấp điện, truyền dẫn thông tin, cung cấp xăng dầu, cung cấp hơi đốt ra, phải chăng thành phố Hồ Chí Minh cần hạn chế việc cấp phép xây dựng công trình kiến trúc sâu dưới mặt đất vì  càng xuống sâu, không gian thi công càng trở nên chật hẹp, tất cả điều kiện thi công càng gặp nhiều khó khăn, chi phí bảo đảm bền vững công trình và an toàn lao động càng cao, thời gian thi công càng lớn , giá thành công trình càng cao.                  
Xây dựng các kiến trúc xuống dưới ngầm thành phố Hồ Chí Minh là cần thiết chỉ khi không còn khả năng vươn lên tầng cao.


Các tin khác
Về tiêu chí và phương pháp đánh giá chung cư cao tầng ( 04/04/2008 )
Xin đừng nhầm địa chỉ ( 04/04/2008 )
Một số vấn đề về QH đô thị ( 04/04/2008 )
Một số chỉ tiêu và giải pháp cho quy hoạch phát triển hệ thống GTCC TP. Hà Nội đến 2020 và tầm nhìn sau năm 2020 ( 04/04/2008 )
Làm gì để chống nạn ô nhiễm kiến trúc ( 18/03/2008 )
Công trình của EVN nhìn từ quản lý QH ( 18/03/2008 )
Lời giải nào mang tính lâu dài cho bài toán đi lại trong đô thị lớn mật độ cao? ( 18/03/2008 )
Sự kiện và bình luận: việc lớn không thể quên ( 18/03/2008 )
 Tin mới nhất

Lộ trình đổi mới R&D Xây dựng và giao thông Hàn Quốc

Những năm qua, Hàn Quốc đã mở rộng rất nhiều đầu tư trong nghiên cứu và phát triển (R&D) khoa học và công nghệ và đã đạt được thành tựu có ý nghĩa. Bắt đầu như là một dự án hợp tác R&D công nghiệp – hàn lâm tháng 12/1994, dự án R&D công nghệ xây dựng và giao thông đã dần dần phát triển ra tổng số 16 dự án bao gồm “Dự án Nghiên cứu và Phát triển công nghệ xây dựng trọng điểm” năm 2006 với vốn Nhà nước được chi cho các dự án từ 1,2 tỷ won lên 262 tỷ won.


Thông báo về việc triệu tập đại hội lần thứ VI của Tổng Hội XDVN

Căn cứ vào Nghị quyết hội nghị BCH TW Tổng Hội XDVN lần thứ V khoá V ngày 6/12/2007, Đoàn Chủ tịch Tổng Hội XDVN đã có quyết định và thông báo về việc tổ chức đại hội khoá VI của Tổng Hội vào ngày 21/8/2008. Đoàn Chủ tịch Tổng Hội đã lập đề cương tổ chức đại hội và ra quyết định thành lập Ban Tổ chức để chuẩn bị đại hội.


Các đề tài NCKH của Tổng Hội được duyệt trong năm 2008

Theo công văn số 02/BXD-KHCN ngày 7/1/2008 của Bộ Xây dựng, về kế hoạch khoa học công nghệ và môi trường ngành xây dựng năm 2008, ban hành theo quyết định số 1535/QĐ-BXD ngày 28/12/2007 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng, Bộ Xây dựng thông báo chính thức các đề tài mà cơ quan thực hiện là Tổng Hội XDVN trong năm 2008 gồm 2 đề tài, đó là:


10 sự kiện quan trọng của Hội Môi trường đô thị Việt Nam năm 2007

1. Trong thời gian từ 28/2~13/3/2007, Hội đã cử 30 thành viên tham quan, học tập và trao đổi kinh nghiệm về xử lý chất thải công nghiệp và bảo vệ môi trường  ở Nhật Bản.
2. Đã tổ chức hội nghị BCH lần thứ 7 khoá II tại TP Hồ Chí Minh vào ngày 15/6/2007


Hoạt động của Hội Kết cấu và Công nghệ xây dựng Việt Nam

Họp Thường trực BCH
Ngày 19/1/2008, Hội đã họp hội nghị Thường trực BCH do Chủ tịch Hội, GS. TSKH. Nguyễn Văn Liên chủ trì. Hội nghị đã quyết định một số công tác quan trọng trong năm 2008.


Hội Xây dựng Hà Nội họp tổng kết công tác năm 2007

Sáng ngày 26/1/2008 tại Hội trường Công viên Bách Thảo, Hội Xây dựng Hà Nội đã họp hội nghị Tổng kết hoạt động năm 2007 với sự tham dự của các uỷ viên BCH Hội, lãnh đạo các chi hội cùng đại diện các Hội bạn. GS.TS. Nguyễn Mạnh Kiểm Chủ tịch Tổng hội XDVN và Phó Chủ tịch UBND Hà Nội Nguyễn Văn Khôi đã đến dự Hội nghị.