Quy hoạch, Kiến trúc, Đô thị và Xã hội
Một số vấn đề về QH đô thị 04/04/2008

Thực trạng quy hoạch của Việt Nam ta hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề nhức nhối trong bối cảnh đất nước đang đà phát triển hội nhập với kinh tế thế giới. Kinh tế xã hội phát triển nóng đồng thời với sự gia tăng của các phương tiện giao thông, các nhà máy xí nghiệp, các toà nhà văn phòng, cao ốc, nhà chung cư xây dựng tràn lan khắp nơi. Thời gian vận động với tốc độ chóng mặt cuốn theo nhiều dự định mà chúng ta khó có thể thực hiện kịp thời. Chúng ta không thể đoán trước và dự định được một cách chính xác các mốc của nó. Đến thời điểm nào chúng ta mới có thể biết được vấn đề quy hoạch đang cần gì? Kinh nghiệm lịch sử không để lại cho chúng ta nhiều vì đất nước ta chỉ mới trải qua thời phong kiến nghèo nàn, lạc hậu. Chúng ta phải đi trước đón đầu để bắt nguồn kịp thời với các nước tiên tiến. Con người của chúng ta đa phần xuất thân từ nông nghiệp hoặc tiểu thương buôn bán nhỏ lẻ. Với đặc điểm con người sau luỹ tre làng ấy, rời làng xã ra chúng ta đã vội phải bắt tay ngay vào xây dựng một nền công nghiệp hiện đại. Công nghệ mới đòi hỏi tính tiên tiến của thời đại, sự chênh lệch phát triển trong tư duy phải trải qua những bước nhảy vọt vô cùng lớn, vừa phải phát triển vừa phải duy trì và nhất là phải đi đúng hướng đó là một điều cực kỳ khó khăn và quá sức. Tất nhiên bên cạnh đó chúng ta cũng được thừa hưởng rất nhiều từ bài học kinh nghiệm thực tiễn, sự giúp đỡ- tài trợ của các nước công nghiệp  phát triển đi trước trên thế giới.
Để phân bố quy hoạch hợp lý và tối ưu hoá ngoài những đặc điểm về tính chiến lược, tính khu vực, tính tổng hợp, tính điều hoà phối hợp, tính hợp lý về kinh tế chúng ta cũng cần quan tâm đến những yếu tố cụ thể sau:
Tính tiện dụng, tính môi trường, tính không gian, thời gian, tính hiện đại văn minh, tính năng lượng.
Nhiều lý thuyết về quy hoạch cũng đã được đề cập song chúng tôi không nhắc lại. ở đây chúng tôi thấy có một số vấn đề của người làm quy hoạch cần lưu ý ở nước ta như sau:
- Thứ nhất, về tập quán: như đã nói trên, đặc điểm của người Việt Nam đa phần xuất thân từ nền nông nghiệp thuần tuý và tiểu thương. Vì vậy các kế hoạch thường chỉ mang tính ngắn hạn, đến đâu hay đến đó, tính định hướng công việc trước khi làm không nhiều.Tính tự giác trong một tập thể không cao nên tất cả các sinh hoạt thường mang tính nhỏ lẻ, sự tuân thủ các nguyên tắc xã hội không cao. Tính duy tình thể hiện quá lớn nên tính luật pháp thường không nghiêm. Người dân vẫn thích được ở nhà riêng, gần mặt phố để thuận tiện cho mọi việc vừa buôn bán dịch vụ có thu nhập vừa không mất các khoản tiền dịch vụ khác như gửi xe, …Lại “không phải bị phụ thuộc ai cả”. Vì vậy, để thuận lợi cho người dân, những nhà quy hoạch kiến trúc đô thị cần nghiên cứu kỹ các nhu cầu, tập quán của người dân, mức chi phí của người dân theo từng đối tượng. Từ đó phải tổ chức cho người dân biết xa lánh thói quen sinh hoạt cũ và phổ biến để người dân làm quen với tập quán mới sao cho có tổ chức hơn, quy mô hơn. Có như vậy mới tổng kết được một dịch vụ hoàn hảo gồm đầy đủ các bộ phận cấu thành của một đô thị hiện đại, phát triển và mang tính tiện dụng, tính hợp lý cao nhất.
- Thứ hai, song song với việc nghiên cứu để điều chỉnh dần những tồn tại cũ thì chúng ta cũng cần có những biện pháp cưỡng chế nhưng phải khéo léo tránh cho người dân những bức xúc không cần thiết như không cho buôn bán ở các khu vực hai bên đường phố, xây dựng các khu thương mại tập trung ngắn hạn và dài hạn, nhưng phải chú ý đến vấn đề kinh phí sao cho người dân không phải đầu tư một lúc quá nhiều. Như vậy người dân sẽ không tụ tập, không đi lại lộn xộn làm cho giao thông không bị rối rắm.
- Thứ ba, cần phải mang tính công bằng trong công tác giải phóng mặt bằng. Hiện nay Nhà nước đang thả nổi cho người dân bằng cách ban hành khung giá đất chung nhưng thường để cho người dân tự thoả thuận mức giá đền bù. Làm như vậy sẽ sinh ra mỗi nơi một giá khác nhau trong cùng một vùng và khi đó sẽ làm cho các đối tượng được đền bù so sánh nhau, dẫn đến phải mất nhiều thời gian giải quyết mâu thuẫn này. Việc đền bù cũng làm mất công bằng xã hội và nảy sinh mâu thuẫn bất bình đẳng trong xã hội. Tại sao đất đai của toàn dân do Nhà nước quản lý lại có vấn đề như vậy: cũng là nông dân cả nhưng anh may mắn sinh ra ở khu vực trở thành đô thị được nhà nước chia cho một số lượng đất đai, sau đó bỗng nhiên không làm lại được một khoản tiền rất lớn? Nhưng lại không biết tính toán phải làm gì với số tiền đó? Và cuối cùng họ thường nẩy sinh các nhu cầu hưởng thụ khác. “Nhàn cư vi bất thiện” đã nẩy sinh tệ nạn như: cờ bạc, nghiện hút, ăn chơi,…tranh giành nhau trong gia đình và nẩy sinh mâu thuẫn xã hội.
Việc lại càng vô lý hơn khi bỗng nhiên một ngày nào đó một anh chàng reo lên sung sướng “có một con đường mới mở chạy qua trước mặt” và ngôi nhà bỗng trở nên vô cùng có giá trị, nhưng cũng có người “đang ở mặt tiền” bỗng nhiên phải di chuyển đi nơi khác và phải ở trong một căn nhà “không buôn bán được”. Tình trạng người thì được ra mặt đường, người thì phải giải toả đi nơi khác một cách không công bằng ấy đã đem lại cho công tác giải phóng mặt bằng không ít phiền toái. Để giải quyết vấn đề này đã có nhiều giải pháp được đặt ra trước khi quy hoạch. Chúng tôi cũng kiến nghị thêm giải pháp nên chăng Nhà nước phải giải toả thêm các phần hành lang để đấu thầu làm các công trình phục vụ cho kinh tế và xã hội, vừa làm cho bộ mặt đô thị được đẹp hơn.
- Thứ tư, việc quy hoạch cũng phải được tính toán để giảm tần suất giao thông đường bộ. ở nước ngoài chúng ta thấy mặc dù mật độ dân cư đông hơn ở nước ta nhưng ngoài đường phố vẫn không đông người vì lý do họ không phải làm ăn theo kiểu chạy “lông nhông” ngoài đường phố. Chúng tôi tính sơ bộ ở đô thị mỗi cán bộ làm việc cũng đều phải tham gia giao thông ngoài phố đến 30 - 40 km mỗi ngày. Với thời gian này nếu trí thức ngồi ở các công sở sẽ làm được rất nhiều công việc có ích hơn cho xã hội. Như vậy theo chúng tôi làm quy hoạch cũng phải biết tính chuyên môn hoá của từng lĩnh vực trong các đô thị. Chúng ta thử làm một phép so sánh rằng: một người phải vừa nấu cơm vừa đi làm các việc khác thì làm sao có thể bằng một người chuyên làm dịch vụ nấu cơm, một người lau nhà dọn dẹp.
- Thứ năm, vấn đề tài chính khi ở nhà chung cư: ở các nhà chung cư người dân vừa đã phải mua nhà với một số tiền khá cao, thậm chí cao hơn nhà đất, thế mà lại phải chịu những dịch vụ rất đắt đỏ do nhà nước không quản lý được. Các công ty kinh doanh nhà đất luôn không thực hiện các cam kết của mình khi giá cả thay đổi. Như vậy vừa phải ở chung cư đắt đỏ lại phải chịu nhiều tốn kém, không tự do, độc lập và thoải mái. Vậy thì làm sao chúng ta có thể thu hút được người dân vào ở các khu chung cư mới để xoá đi các làng mạc lộn xộn với mức độ tiêu chuẩn sinh hoạt ở mức thấp như hiện nay?
- Thứ sáu, tổ chức quy hoạch sửa chữa nhà ở cũ: nếu chúng ta làm tốt việc này sẽ góp phần làm cho xã hội đỡ lãng phí. Trong khi chúng ta chưa quy hoạch trong các khu dân cư cũ, chúng ta cũng cần phải có các quy hoạch mẫu nhà dân được thiết kế điển hình sau đó yêu cầu các nhà dân phải thực hiện theo các mẫu này. Nếu làm được điều này thì bộ mặt đô thị tự khắc được điều chỉnh mà xã hội không bị lãng phí khi phải đập đi phá dỡ nhiều lần do mẫu mã phải luôn thay đổi. Bên cạnh đó chúng ta tổng hợp các khu nhà mà dân đã xây theo từng khối và “ sửa chữa nhỏ” để làm cho nó “ ngăn nắp hơn” góp phần tạo nên những khối đô thị đẹp mà xã hội không cần phải tốn kém nhiều tiền của.
- Thứ bảy, chuyên môn hoá dần từ những việc nhỏ liên quan: có người nói “ở Việt Nam không có người nào không là Kỹ sư, Kiến trúc sư cả”. Ai cũng muốn làm những mẫu nhà theo ý mình dẫn đến chúng ta vừa mất nhiều nhân lực , vật lực vừa phải nhận những mẫu nhà “nhiều trường phái” mà toàn xã hội không mong muốn. Trong việc này chúng tôi cũng kiến nghị các cơ quan thẩm quyền nên quy định muốn làm nhà dân cũng phải thực hiện thi tuyển kiến trúc, mẫu mã phải được các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt hoặc một đơn vị chuyên về công tác thiết kế bảo đảm. Việc xây dựng cũng phải do các công ty chuyên ngành xây dựng thực hiện. Như thế các công ty sẽ góp phần làm tăng tính đồng bộ trong hệ thống đô thị, bên cạnh đó Nhà nước cũng phải nâng cao tính trách nhiệm của các cơ quan tham gia như: phải chịu trách nhiệm về các công trình mà mình thực hiện, phải có Văn bằng chứng chỉ thực hiện chuyên môn của người chủ trì công việc đó…
Quy hoạch là một bài toán tổng hợp của rất nhiều các bài toán của xã hội, trong khi chúng ta còn băn khoăn chưa chọn được những hướng đi nào cho việc phát triển quy hoạch lâu dài phù hợp với đất nước và con người Việt Nam, thì trước mắt chúng ta cũng phải bắt tay ngay vào “ quy hoạch” từ những ý tưởng, những hình ảnh nhỏ nhất. Khi chúng ta đã tổng hợp được những hướng đi đúng đắn nhất cho một quy hoạch mang tính tương lai thì những điều chúng ta đã làm hôm nay đều mang những ý nghĩa góp phần làm hợp lý hoá không gian quy hoạch sau này.

KS. Trần Văn Hoàng
Công ty Cổ phần Tư vấn Đô thị Việt Nam- Vinacity


Các tin khác
Về tiêu chí và phương pháp đánh giá chung cư cao tầng ( 04/04/2008 )
Xin đừng nhầm địa chỉ ( 04/04/2008 )
Tổ chức điều tra, quy hoạch và quản lý xây dựng các công trình ngầm ở TP. Hồ Chí Minh ( 04/04/2008 )
Một số chỉ tiêu và giải pháp cho quy hoạch phát triển hệ thống GTCC TP. Hà Nội đến 2020 và tầm nhìn sau năm 2020 ( 04/04/2008 )
Làm gì để chống nạn ô nhiễm kiến trúc ( 18/03/2008 )
Công trình của EVN nhìn từ quản lý QH ( 18/03/2008 )
Lời giải nào mang tính lâu dài cho bài toán đi lại trong đô thị lớn mật độ cao? ( 18/03/2008 )
Sự kiện và bình luận: việc lớn không thể quên ( 18/03/2008 )
 Tin mới nhất

Lộ trình đổi mới R&D Xây dựng và giao thông Hàn Quốc

Những năm qua, Hàn Quốc đã mở rộng rất nhiều đầu tư trong nghiên cứu và phát triển (R&D) khoa học và công nghệ và đã đạt được thành tựu có ý nghĩa. Bắt đầu như là một dự án hợp tác R&D công nghiệp – hàn lâm tháng 12/1994, dự án R&D công nghệ xây dựng và giao thông đã dần dần phát triển ra tổng số 16 dự án bao gồm “Dự án Nghiên cứu và Phát triển công nghệ xây dựng trọng điểm” năm 2006 với vốn Nhà nước được chi cho các dự án từ 1,2 tỷ won lên 262 tỷ won.


Thông báo về việc triệu tập đại hội lần thứ VI của Tổng Hội XDVN

Căn cứ vào Nghị quyết hội nghị BCH TW Tổng Hội XDVN lần thứ V khoá V ngày 6/12/2007, Đoàn Chủ tịch Tổng Hội XDVN đã có quyết định và thông báo về việc tổ chức đại hội khoá VI của Tổng Hội vào ngày 21/8/2008. Đoàn Chủ tịch Tổng Hội đã lập đề cương tổ chức đại hội và ra quyết định thành lập Ban Tổ chức để chuẩn bị đại hội.


Các đề tài NCKH của Tổng Hội được duyệt trong năm 2008

Theo công văn số 02/BXD-KHCN ngày 7/1/2008 của Bộ Xây dựng, về kế hoạch khoa học công nghệ và môi trường ngành xây dựng năm 2008, ban hành theo quyết định số 1535/QĐ-BXD ngày 28/12/2007 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng, Bộ Xây dựng thông báo chính thức các đề tài mà cơ quan thực hiện là Tổng Hội XDVN trong năm 2008 gồm 2 đề tài, đó là:


10 sự kiện quan trọng của Hội Môi trường đô thị Việt Nam năm 2007

1. Trong thời gian từ 28/2~13/3/2007, Hội đã cử 30 thành viên tham quan, học tập và trao đổi kinh nghiệm về xử lý chất thải công nghiệp và bảo vệ môi trường  ở Nhật Bản.
2. Đã tổ chức hội nghị BCH lần thứ 7 khoá II tại TP Hồ Chí Minh vào ngày 15/6/2007


Hoạt động của Hội Kết cấu và Công nghệ xây dựng Việt Nam

Họp Thường trực BCH
Ngày 19/1/2008, Hội đã họp hội nghị Thường trực BCH do Chủ tịch Hội, GS. TSKH. Nguyễn Văn Liên chủ trì. Hội nghị đã quyết định một số công tác quan trọng trong năm 2008.


Hội Xây dựng Hà Nội họp tổng kết công tác năm 2007

Sáng ngày 26/1/2008 tại Hội trường Công viên Bách Thảo, Hội Xây dựng Hà Nội đã họp hội nghị Tổng kết hoạt động năm 2007 với sự tham dự của các uỷ viên BCH Hội, lãnh đạo các chi hội cùng đại diện các Hội bạn. GS.TS. Nguyễn Mạnh Kiểm Chủ tịch Tổng hội XDVN và Phó Chủ tịch UBND Hà Nội Nguyễn Văn Khôi đã đến dự Hội nghị.