TỔNG HỘI XÂY DỰNG VIỆT NAM

TIẾNG ANH  |  HỖ TRỢ  | TRANG CHỦ

Diễn đàn xây dựng

Giới thiệu Tổng hội

Điều lệ Tổng hội

Cơ cấu tổ chức

Hội chuyên ngành

Hội tỉnh thành

Viện/Trung tâm/Công ty

Tin hoạt động

T/c "Người Xây dựng"

Ứng dụng CNM trong XD

Hội viên CN và TT

Số lần truy cập

This counter provided for free from HTMLcounter.com!

CÁC ĐƠN VỊ TÀI TRỢ
 Tài trợ vàng
 Tài trợ bạc
 Tài trợ đồng
 Tài trợ khác
CÁC ĐƠN VỊ QUẢNG CÁO
 
 
 
 
 
 
 

DIỄN ĐÀN XÂY DỰNG

Những điểm mới của Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình

Phạm Văn Nhạ

Ngày 29 tháng 9 năm 2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 112/2006/NĐ-CP (NĐ 112/CP) về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 16/1005/NĐ-CP (NĐ 16/CP) ngày 07/02/2005 bao gồm sửa đổi, bổ sung 16 Điều, chiếm 23% số Điều; huỷ bỏ 07 Điều về lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng, chiếm 10% số Điều, theo hướng quy định cụ thể hơn, sát thực tế hơn về quyền quyết định đầu tư, thẩm quyền thẩm định dự án, nội dung thiết kế cơ sở và thẩm định dự án, điều chỉnh dự án, giấy phép xây dựng và hồ sơ xin giấy phép xây dựng, các hình thức quản lý dự án, vốn đầu tư được quyết toán, chủ đầu tư ký hợp đồng với nhà thầu chính và phân loại các dự án đầu tư đối với dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước.

Về chủ đầu tư xây dựng công trình vốn ngân sách nhà nước, theo quy định mới, đối với dự án do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư thì chủ đầu tư là Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan Trung ương, UBND cấp tỉnh và doanh nghiệp nhà nước; đối với dự án do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan cấp Bộ, Chủ tịch UBND các cấp quyết định đầu tư thì chủ đầu tư là đơn vị quản lý, sử dụng công trình.

Trường hợp chưa xác định được đơn vị quản lý, sử dụng công trình hoặc đơn vị quản lý, sử dụng công trình không đủ điều kiện làm chủ đầu tư, thì người quyết định đầu tư lựa chọn đơn vị có đủ điều kiện làm chủ đầu tư và giao nhiệm vụ cho đơn vị sẽ quản lý, sử dụng công trình có trách nhiệm cử người tham gia với chủ đầu tư để quản lý đầu tư xây dựng công trình và tiếp nhận quản lý sử dụng khi công trình hoàn thành.

Về các dự án quan trọng quốc gia, theo quy định mới, thì chủ đầu tư phải lập Báo cáo đầu tư trình Chính phủ xem xét để trình Quốc hội thông qua chủ trương và cho phép đầu tư; đối với dự án khác, chủ đầu tư không phải lập Báo cáo đầu tư.

Đối với dự án nhóm A không có trong quy hoạch ngành được cấp có thẩm quyền phê duyệt, thì chủ đầu tư phải báo cáo bộ quản lý ngành để xem xét, bổ sung quy hoạch theo thẩm quyền, hoặc trình Thủ tướng Chính phủ chấp thuận bổ sung quy hoạch trước khi lập dự án đầu tư xây dựng công trình. Vị trí, quy mô xây dựng công trình phải phù hợp với quy hoạch xây dựng được cấp có thẩm quyền phê duyệt; nếu chưa có trong quy hoạch xây dựng, thì phải được UBND cấp tỉnh chấp thuận.

Nghị định 16/CP không quy định dự án nào không phải lập báo cáo đầu tư; dự án nhóm A không có trong quy hoạch xử lý như thế nào; quy mô công trình có phải phù hợp với quy hoạch xây dựng không, và nếu chưa phù hợp thì cấp nào giải quyết.

Về nội dung thiết kế cơ sở của dự án, theo quy định mới, thì bao gồm phần thuyết minh và phần bản vẽ, đảm bảo thể hiện được các phương án thiết kế, là căn cứ để xác định tổng mức đầu tư và triển khai các bước thiết kế tiếp theo. Trong đó quy định rõ phần thuyết minh gồm những nội dung gì, phần bản vẽ gồm những nội dung gì.

Những quy định rất cụ thể về nội dung thiết kế cơ sở, khắc phục tình trạng là từ khi Nghị định 16/CP có hiệu lực thi hành: do hướng dẫn liên quan đến nhiều nội dung, nhưng khi thực hiện dễ dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, tạo nên một khối lượng công việc rất lớn, nhất là quy định về thuyết minh thiết kế cơ sở, đôi khi vượt quá khả năng của cấp thực thi là các sở chuyên ngành địa phương. Kết cục là nhiều dự án đầu tư xây dựng công trình đã bị chậm rất nhiều so với tiến độ, thậm chí không thể triển khai các bước tiếp theo vì “tắc” ngay ở nội dung thiết kế cơ sở.

Về hồ sơ trình phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình, theo quy định mới là ngoài Tờ trình phê duyệt, phần thuyết minh và thiết kế cơ sở như Nghị định 16/CP quy định, thì phải có văn bản thẩm định của cơ quan có thẩm quyền, văn bản cho phép đầu tư đối với dự án quan trọng quốc gia, văn bản chấp thuận bổ sung quy hoạch đối với dự án nhóm A chưa có trong quy hoạch ngành. Quy định như vậy vừa đảm bảo tính chặt chẽ trong hồ sơ trình phê duyệt dự án, vừa chỉ rõ những việc phải tiến hành để hồ sơ trình là tuân thủ các quy định pháp luật.

Về thẩm quyền thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình, theo quy định mới: người quyết định đầu tư có trách nhiệm tổ chức thẩm định dự án trước khi phê duyệt; đơn vị chuyên môn trực thuộc người quyết định đầu tư là đầu mối thẩm định dự án và có trách nhiệm gửi hồ sơ dự án lấy ý kiến thẩm định thiết kế cơ sở của cơ quan có thẩm quyền và các cơ quan liên quan và đã được quy định cụ thể cho từng loại dự án.

Nghị định 16/CP quy định người có thẩm quyền quyết định đầu tư tổ chức thẩm định dự án trước khi phê duyệt, nhưng không quy định tổ chức nào là đầu mối thẩm định dự án, trách nhiệm của tổ chức đầu mối như thế nào và trách nhiệm của UBND cấp huyện, cấp xã khi là người quyết định đầu tư...

Về thẩm quyền thẩm định thiết kế cơ sở, đối với dự án quan trọng quốc gia và dự án nhóm A không phân biệt nguồn vốn, thì ngoài quy định như Nghị định 16/CP đối với các Bộ Công nghiệp, Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Giao thông Vận tải, Xây dựng, theo quy định mới: Sở Xây dựng địa phương tổ chức thẩm định thiết kế cơ sở đối với dự án đầu tư xây dựng công trình dân dụng dưới 20 tầng; đối với dự án bao gồm nhiều loại công trình khác nhau thì Bộ chủ trì tổ chức thẩm định thiết kế cơ sở là một trong các bộ chuyên ngành có chức năng quản lý loại công trình quyết định tính chất, mục tiêu của dự án và có trách nhiệm lấy ý kiến bằng văn bản các cơ quan liên quan.

Đối với dự án nhóm B, C do các Bộ Công nghiệp, Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Giao thông - Vận tải, Xây dựng, các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước đầu tư thuộc chuyên ngành, thì tự tổ chức thẩm định thiết kế cơ sở sau khi có ý kiến của địa phương nơi thực hiện dự án về quy hoạch và bảo vệ môi trường. Với dự án nhóm B, C có công trình theo tuyến qua nhiều địa phương, thì Bộ quản lý chuyên ngành về dự án đó tổ chức thẩm định thiết kế cơ sở và có trách nhiệm lấy ý kiến của địa phương nơi thực hiện dự án về quy hoạch và bảo vệ môi trường. Đối với các dự án nhóm B, C còn lại, không phân biệt nguồn vốn, điểm mới là với dự án đầu tư xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị do Sở Xây dựng hoặc Sở Giao thông - Công chính hoặc Sở Giao thông - Vận tải tổ chức thẩm định thiết kế cơ sở phù hợp với chức năng, nhiệm vụ do UBND cấp tỉnh quy định. Đối với dự án bao gồm nhiều loại công trình khác nhau thì Sở chủ trì tổ chức thẩm định thiết kế cơ sở là một trong các Sở chuyên ngành có chức năng quản lý loại công trình quyết định tính chất, mục tiêu của dự án và có trách nhiệm lấy ý kiến bằng văn bản các cơ quan liên quan.

Nghị định 16/CP có đề cập đến thẩm quyền thẩm định thiết kế cơ sở dự án bao gồm nhiều loại công trình khác nhau, nhưng chưa chỉ rõ cơ quan chuyên ngành nào có chức năng quản lý loại công trình quyết định tính chất, mục tiêu của dự án. Đặc biệt, với dự án nhóm B, C do các Bộ chuyên ngành, các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước đầu tư thuộc chuyên ngành, việc tổ chức thẩm định thiết kế cơ sở mà Nghị định 16/CP quy định cho các Sở chuyên ngành địa phương thực hiện...đã gây nên tình trạng liên tục quá tải, vượt quá sức về chuyên môn của đội ngũ cán bộ các Sở địa phương; thực tế là nhiều dự án không thể thẩm định được, thậm chí có Sở đã nhờ chính chủ đầu tư và tổ chức tư vấn thiết kế dự án thẩm định giúp, vì không đủ khả năng chuyên môn để thẩm định. Đối với dự án nhóm B, C có công trình theo tuyến qua nhiều địa phương, theo quy định của Nghị định 16/CP, việc thẩm định thiết kế cơ sở do nhiều Sở thực hiện, nhưng không có Sở nào giữ vai trò chủ trì, nên thời gian thực hiện dự án thường xuyên bị kéo dài và chất lượng thẩm định có nhiều vấn đề.

Về nội dung thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình, điểm mới là xác định rõ đây là việc làm của người quyết định đầu tư, do đó đi thẳng vào việc xem xét các yếu tố đảm bảo tính hiệu quả của dự án và tính khả thi của dự án, trong đó các yếu tố đảm bảo tính hiệu quả của dự án là sự cần thiết đầu tư, các yếu tố đầu vào, quy mô, công suất, công nghệ, thời gian, tiến độ thực hiện, phân tích tài chính, hiệu quả kinh tế – xã hội của dự án; các yếu tố đảm bảo tính khả thi bao gồm sự phù hợp với quy hoạch, nhu cầu sử dụng đất, tài nguyên (nếu có), khả năng giải phóng mặt bằng, huy động vốn, hoàn trả vốn, kinh nghiệm quản lý của chủ đầu tư, kết quả thẩm định thiết kế cơ sở, giải pháp phòng chống cháy nổ, các yếu tố ảnh hưởng đến quốc phòng- an ninh, môi trường...

Về nội dung thẩm định thiết kế cơ sở, điểm mới là xác định rõ đây là trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền bao gồm sự phù hợp của thiết kế cơ sở với quy hoạch xây dựng, sự kết nối với các công trình hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào; việc áp dụng các quy chuẩn, tiêu chuẩn về xây dựng, môi trường, phòng chống cháy nổ; điều kiện năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức tư vấn, năng lực hành nghề của cá nhân lập thiết kế cơ sở theo quy định.

Nghị định 16/CP quy định về nội dung thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm nhiều nội dung, trong đó có sự phù hợp của dự án với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội, với Báo cáo đầu tư, với thiết kế cơ sở cả về quy hoạch xây dựng và phương án kiến trúc..., nhưng không xác định đâu là việc làm của người quyết định đầu tư, đâu là trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền, gây nên tình trạng chồng chéo và dẫn đến nhiều cách thực hiện khác nhau trong thực tế, làm kéo dài quá trình đầu tư dự án, một số dự án mất cơ hội đầu tư.

Về các dự án đầu tư xây dựng công trình không phải lập dự án đầu tư mà chỉ lập Báo cáo kinh tế – kỹ thuật, điểm mới là quy định cho các công trình xây dựng mới, cải tạo, sửa chữa, nâng cấp có tổng mức đầu tư dưới 7 tỷ đồng (quy định cũ là 3 tỷ đồng), phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch ngành, quy hoạch xây dựng (trừ trường hợp người quyết định đầu tư thấy cần thiết và yêu cầu lập dự án đầu tư) và công trình xây dựng cho mục đích tôn giáo (như Nghị định 16/CP quy định); đối với các dự án này, chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức thẩm định thiết kế bản vẽ thi công để người quyết định đầu tư phê duyệt Báo cáo kinh tế – kỹ thuật.

Về điều chỉnh dự án đầu tư xây dựng công trình, điểm mới là quy định khi dự án bị ảnh hưởng bởi thiên tai, địch họa hoặc các sự kiện bất khả kháng khác; xuất hiện các yếu tố đem lại hiệu quả cao hơn cho dự án; khi quy hoạch xây dựng thay đổi trực tiếp ảnh hưởng đến địa điểm, quy mô, tính chất, mục tiêu của dự án. Yếu tố do biến động bất thường của giá nguyên vật liệu, tỷ giá, do Nhà nước ban hành các chế độ chính sách mới có quy định được thay đổi mặt bằng giá đầu tư xây dựng công trình...quy định trong Nghị định 16/CP đã không được xác định là trường hợp được điều chỉnh dự án.

Về giấy phép xây dựng công trình, điểm mới là kể cả công trình đã được cơ quan có thẩm quyền thẩm định thiết kế cơ sở, trước khi khởi công xây dựng công trình, chủ đầu tư phải có giấy phép xây dựng; đối với hồ sơ xin cấp giấy phép xây dựng công trình và nhà ở đô thị, điểm mới là với công trình đã được cơ quan có thẩm quyền thẩm định thiết kế cơ sở, thì chủ đầu tư nộp kết quả thẩm định thiết kế cơ sở thay cho tài liệu quy định trong bản vẽ thiết kế. Quy định như vậy đảm bảo sự tuân thủ chặt chẽ trong thực hiện quy hoạch xây dựng và đúng với yêu cầu quản lý của giấy phép xây dựng.

Về các hình thức quản lý dự án, điểm mới là người quyết định đầu tư quyết định hình thức quản lý dự án theo quy định của Luật Xây dựng; trường hợp chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án thì thành lập Ban quản lý dự án để giúp chủ đầu tư làm đầu mối quản lý dự án. Ban quản lý dự án có thể thuê tư vấn quản lý, giám sát một số phần việc mà Ban quản lý dự án không có đủ điều kiện, năng lực để thực hiện, nhưng phải được sự đồng ý của chủ đầu tư. Với dự án có quy mô nhỏ, đơn giản có tổng mức đầu tư dưới 1 tỷ đồng, thì chủ đầu tư có thể không thành lập Ban quản lý dự án mà sử dụng bộ máy chuyên môn của mình để quản lý, điều hành dự án, hoặc thuê người có chuyên môn, kinh nghiệm để giúp quản lý thực hiện dự án. Trường hợp tư vấn quản lý điều hành dự án được chủ đầu tư thuê, thì phải đủ điều kiện năng lực tổ chức quản lý phù hợp với quy mô, tính chất của dự án và thực hiện theo hợp đồng ký kết giữa hai bên; được thuê tổ chức cá nhân tư vấn tham gia quản lý, nhưng phải được chủ đầu tư chấp thuận. Trong trường hợp này, chủ đầu tư phải sử dụng các đơn vị chuyên môn thuộc bộ máy của mình hoặc chỉ định đầu mối để kiểm tra, theo dõi việc thực hiện hợp đồng của tư vấn quản lý dự án.

Về nhiệm vụ, quyền hạn của chủ đầu tư và Ban quản lý dự án khi chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án, điểm mới là chủ đầu tư thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư dự án, thực hiện dự án đến khi nghiệm thu bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng bảo đảm tính hiệu quả, tính khả thi của dự án và tuân thủ các quy định của pháp luật. Trong quyết định thành lập Ban quản lý dự án phải thể hiện việc giao nhiệm vụ và uỷ quyền của chủ đầu tư cho Ban quản lý dự án, nhưng chủ đầu tư có trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra và chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ do chủ đầu tư giao và quyền hạn do chủ đầu tư uỷ quyền.

Về nhiệm vụ của chủ đầu tư và tư vấn quản lý dự án khi chủ đầu tư thuê tư vấn quản lý dự án, điểm mới là chủ đầu tư thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn kể từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư dự án, thực hiện dự án đến khi nghiệm thu bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng bảo đảm tính hiệu quả, tính khả thi của dự án và tuân thủ các quy định của pháp luật; có trách nhiệm lựa chọn và ký hợp đồng với tổ chức tư vấn quản lý dự án có đủ điều kiện năng lực tổ chức quản lý để giúp chủ đầu tư quản lý thực hiện dự án, nhưng chủ đầu tư có trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra, theo dõi việc thực hiện hợp đồng của tư vấn quản lý dự án. Tư vấn quản lý dự án thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo hợp đồng; chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ đầu tư về việc thực hiện nhiệm vụ được cam kết trong hợp đồng.

Nghị định 16/CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn của chủ đầu tư, Ban quản lý dự án khi chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án, và nhiệm vụ, quyền hạn của chủ đầu tư, tư vấn quản lý dự án quá chi tiết, nhưng lại không bao quát đầy đủ các tình huống xảy ra trong thực tế.

Về quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình, điểm mới là chi phí hợp pháp đã thực hiện cho đầu tư xây dựng công trình là chi phí được thực hiện trong phạm vi thiết kế, dự toán được phê duyệt, kể cả phần điều chỉnh, bổ sung hoặc là chi phí được thực hiện đúng với hợp đồng đã ký kết, phù hợp với quy định của pháp luật; sau sáu tháng kể từ khi có quyết định phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành, chủ đầu tư có trách nhiệm giải quyết công nợ, tất toán tài khoản của dự án tại cơ quan thanh toán, cho vay vốn đầu tư. Quy định như vậy mở ra hai phương thức xác định chi phí hợp pháp để tiến hành quyết toán vốn đầu tư, góp phần đẩy nhanh thời gian quyết toán và giải quyết công nợ của chủ đầu tư – một vấn đề nan giải đã kéo dài lâu nay.

Nghị định 16/CP quy định chi phí hợp pháp là chi phí thực hiện đúng với thiết kế, dự toán đã được phê duyệt, đảm bảo đúng định mức, đơn giá, chế độ tài chính, kế toán, hợp đồng kinh tế đã ký kết và các quy định khác của Nhà nước. Những quy định như vậy không sai, nhưng đơn thuần là tạo thuận lợi cho người quản lý, rất khó cho người phải thực hiện trong thực tế và làm kéo dài quá trình quyết toán vốn đầu tư.

Về đàm phán ký kết hợp đồng xây dựng, điểm mới là chủ đầu tư ký hợp đồng với một hoặc nhiều nhà thầu chính tuỳ theo quy mô, tính chất và yêu cầu về thời gian thực hiện dự án; nhà thầu chính có thể ký hợp đồng để thực hiện công việc với một hoặc nhiều nhà thầu phụ, nhưng phải được chủ đầu tư chấp thuận trong hợp đồng ký kết với chủ đầu tư và phù hợp với quy định của pháp luật về đấu thầu. Quy định như vậy vừa làm tăng trách nhiệm, quyền hạn, khả năng giám sát đối với nhà thầu của chủ đầu tư, vừa tạo điều kiện bình đẳng hơn của nhà thầu phụ đối với nhà thầu chính và phù hợp với luật pháp về đấu thầu.

Nghị định 16/CP quy định chủ đầu tư có thể ký hợp đồng với một hoặc nhiều nhà thầu chính; nhà thầu chính có thể ký hợp đồng với một hoặc nhiều nhà thầu phụ, khối lượng công việc do các nhà thầu phụ thực hiện không được vượt quá 30% khối lượng công việc của hợp đồng.

Về lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng, Nghị định 112/CP đã huỷ bỏ các Điều trong Mục 3 của Nghị định 16/CP để thống nhất hướng dẫn trong Nghị định thực hiện Luật Đấu thầu của Chính phủ.

Ngoài ra, Nghị định 112/CP ban hành Phụ lục Phân loại dự án đầu tư xây dựng công trình thay thế Phụ lục số 1 ban hành kèm theo Nghị định 16/CP.

Các tin khác:

- Tổng Hội Xây dựng Việt Nam tập hợp và công bố địa chỉ 43 dự án cấp tỉnh có lãng phí thất thóat, 30 vụ vi phạm đất xây dựng ở các địa phương cùng những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này

- Ưu đãi khoa học phải dựa trên kết quả nghiên cứu



Head office: 625A La Thanh Str., Hanoi,Vietnam - Tel: 84-4-8314732 - Fax: 84-4-8314735
Website: - Email:

Copyright ? 2004 by VIFCEA. All rights reserved.
Designed by CAC.