TỔNG HỘI XÂY DỰNG VIỆT NAM

TIẾNG ANH  |  HỖ TRỢ  | TRANG CHỦ

Diễn đàn xây dựng

Giới thiệu Tổng hội

Điều lệ Tổng hội

Cơ cấu tổ chức

Hội chuyên ngành

Hội tỉnh thành

Viện/Trung tâm/Công ty

Tin hoạt động

T/c "Người Xây dựng"

Ứng dụng CNM trong XD

Hội viên CN và TT

Số lần truy cập

This counter provided for free from HTMLcounter.com!

CÁC ĐƠN VỊ TÀI TRỢ
 Tài trợ vàng
 Tài trợ bạc
 Tài trợ đồng
 Tài trợ khác
CÁC ĐƠN VỊ QUẢNG CÁO
 
 
 
 
 
 
 

DIỄN ĐÀN XÂY DỰNG

Vì sao “giấy chứng nhận chất lượng công trình xây dựng” theo thông tư số 11/2005/TT-BXD của Bộ Xây dựng không thâm nhập được vào cuộc sống ?!

Xuân Nguyên

Những ai có điều kiện nghiên cứu kỹ Luật Xây dựng thì đều rất phấn khởi là Đảng, Chính phủ, Quốc hội rất quan tâm đến chất lượng công trình xây dựng. Có thể nói phần lớn các quy định trong Luật đều hướng tới mục tiêu đảm bảo chất lượng công trình. Các quy định từ quy hoạch, lập dự án đến khảo sát thiết kế, thi công, lựa chọn nhà thầu, hợp đồng... đều có mục kiểm tra, giám sát rất gắt gao và quy trách nhiệm rất rõ ràng. Điều 80 khoản 1, mục d của Luật đã chốt lại “công trình chỉ được nghiệm thu đưa vào sử dụng khi bảo đảm đúng yêu cầu thiết kế, bảo đảm chất lượng và đạt các tiêu chuẩn theo quy định”.

Tưởng Luật quy định như vậy là đủ, nhưng trong Nghị định của Chính phủ 209/2004/NĐ-CP ngày 16/12/2004 về Quản lý Chất lượng Công trình xây dựng lại “đẻ” ra thêm một điều mới: Điều 28 - Kiểm tra và chứng nhận sự phù hợp về chất lượng công trình xây dựng trong đó có quy định đối với công trình xây dựng khi xẩy ra sự cố có thể gây thảm họa phải được kiểm tra và chứng nhận phù hợp về chất lượng nhằm đảm bảo an toàn trước khi đưa vào khai thác sử dụng ( Các công trình công cộng tập trung đông người như nhà hát, rạp chiếu bóng, rạp xiếc, trường học, sân vận động, nhà thi đấu, siêu thị và các công trình xây dựng có chức năng tương tự; Nhà chung cư, nhà làm việc, khách sạn nhiều tầng; Các công trình hoá chất và hoá dầu, công trình kho chứa dầu khí; Các công trình đê, đập, cầu hầm lớn; Các công trình quan trọng theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ phải kiểm tra và chứng nhận chất lượng) . Rồi đến thông tư hướng dẫn số 11/2005/TT-BXD ngày 14/7/2005 của Bộ Xây dựng lại cụ thể hơn một bước nữa và mở rộng thêm đối tượng điều chỉnh ( thêm: Các công trình khi có yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, các tổ chức bán bảo hiểm, tổ chức, cá nhân sử dụng hoặc quản lý công trình): Đối với các loại công trình trên, yêu cầu phải có giấy chứng nhận chất lượng công trình xây dựng. Giấy chứng nhận do một tổ chức tư vấn độc lập cấp. Chủ đầu tư lựa chọn và ký hợp đồng, trả tiền cho tổ chức này.

Không ai dám nghi ngờ về động cơ trong sáng vì dân vì nước của những người dự thảo và ban hành các quy định trên, song cách làm thì lại đi vào con đường tối tăm, mù mịt. Chính vì thế mà mặc dù đã hơn 1 năm kể từ ngày ban hành Thông tư, nó vẫn không thâm nhập được vào cuộc sống. Vì sao vậy?

1. Trước hết, không thể có một tổ chức tư vấn độc lập nào lại “Hoạt động khách quan, độc lập, không bị ràng buộc về lợi ích kinh tế” khi mà tổ chức đó lại do chính chủ đầu tư lựa chọn, thuê, trả tiền để đánh giá chất lượng công trình cho họ. Không lẽ họ mất tiền để cho anh chê họ, không cho sử dụng công trình của họ. Mà nếu anh chê họ thì họ sẽ gạt anh ra, thuê anh khác.

2. “Việc chứng nhận chất lượng của tổ chức chứng nhận chất lượng không thay thế và không giảm bớt trách nhiệm của các bên có liên quan đến chất lượng công trình xây dựng theo quy định của pháp luật” ( trích Thông tư 11/2005/BXD) và tiếp đó là “tổ chức chứng nhận chất lượng không chịu trách nhiệm về chất lượng công trình mà chỉ phản ánh trung thực về thực trạng chất lượng công trình” ( trích Công văn giải thích số 130/GĐ ngày 5/4/2006).

Ôi, thật kỳ lạ, người ta thuê anh để anh khẳng định xem công trình có dùng được hay không dùng được thì anh phải nói rõ và anh phải có trách nhiệm trong kết luận của anh. Nếu không thì người ta cần gì đến anh? Cái giấy chứng nhận của anh thật vô tích sự, chẳng những tốn thêm một khoản chi không nhỏ lại gây phiền hà mà nhiều khi cái giấy đó đánh lừa khách hàng, đánh lừa công luận, rất nguy hiểm.

3. Từ trước đến nay, ở Việt Nam ta chưa có tổ chức tư vấn nào làm việc này. Vậy ai làm được, phải có điều kiện gì, cán bộ, thiết bị, trình độ ra sao? Ai công nhận? Đăng ký kinh doanh của họ ra sao? Chủ đầu tư lấy đâu ra thông tin để tìm ra tổ chức này. Nếu không theo dõi công trình xây dựng từ đầu thì cơ sở đâu mà chứng nhận. Nếu tổ chức tư vấn này theo dõi từ đầu thì lại xảy ra câu chuyện giám sát của giám sát mà nếu họ thông đồng với nhau thì dẫu có giám sát lũy thừa mười thì công trình vẫn có thể xảy ra sự cố và lúc đó thì trách nhiệm sẽ là “hòa cả làng”.

4. Việc giao phó cho một tổ chức tư vấn độc lập thuộc đủ mọi thành phần kinh tế để chứng nhận chất lượng cho loại công trình mà khi sự cố xảy ra gây thảm họa cho xã hội thì liệu có yên tâm không? Không lẽ cơ quan quản lý xây dựng của Nhà nước - công bộc của dân đứng ngoài cuộc, phủi tay không chịu trách nhiệm gì?

5. Không lẽ những công trình to lớn của Nhà nước như Thủy điện Sơn La hoặc Công trình Trung tâm Hội nghị Quốc gia sắp được nghiệm thu bàn giao để khai mạc Hội nghị thượng đỉnh APEC vào tháng 11/2006 lại phải chờ giấy chứng nhận chất lượng công trình của một công ty tư vấn độc lập?

Ta thử xem nước ngoài họ giải quyết việc này ra sao?

Thông tin mới nhất mà chúng tôi cập nhật được (10/2006) thì tại các nước Mỹ, Tây Âu, úc và các nước Asean người ta vẫn quản lý công trình xây dựng rất chặt chẽ. Họ vẫn sử dụng 3 công cụ để quản lý:

- Giấy phép hành nghề xây dựng (Builder’s Licences) để quản lý các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng.

- Giấy phép xây dựng (Buiding Permits) để quản lý chất lượng của khảo sát, thiết kế và sự phù hợp với quy hoạch xây dựng.

- Chứng chỉ sử dụng công trình ( Certificate of occupancy hoặc Occupancy permits) , để quản lý thi công xây lắp.

3 loại giấy này là một thể thống nhất không thể thiếu một loại giấy nào.Thẩm quyền cấp 3 loại giấy phép trên là do cơ quan nhà nước ở địa phương (cấp tỉnh và huyện, quận) phụ trách công nghiệp xây dựng cấp, tập trung vào một đầu mối và áp dụng cho bất kỳ một tổ chức nào, cho bất kỳ loại công trình nào, không phân biệt tổ chức hoặc nguồn vốn thuộc thành phần kinh tế nào.

Chỉ có người có chức năng thuộc cơ quan nhà nước về xây dựng (Building Controller, Building Official) mới có thẩm quyền cấp 3 loại giấy trên.

Tại các cơ quan quản lý nhà nước này họ có đủ các loại cán bộ thanh tra như: Thanh tra Xây dựng (Building Inspector), thanh tra cơ khí (Mechanical Inspector), thanh tra đường ống (Plumbing Inspector), thanh tra điện (Electrical Inspector) thanh tra về chống cháy (Fire Inspector).

Trước khi cấp giấy phép xây dựng họ phải kiểm tra đồ án thiết kế xem có tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn không? Sau khi cấp giấy phép họ cử cán bộ thanh tra xuống hiện trường xem thi công có tuân thủ thiết kế và giấy phép không. Thường họ cũng chỉ thanh tra làm 2 giai đoạn (giai đoạn 1 phần thô, giai đoạn 2 phần lắp đặt thiết bị và hoàn thiện) Cơ quan cấp giấy phép xây dựng chính là cơ quan cấp chứng chỉ sử dụng. Xin lưu ý là giấy chứng nhận quyền sở hữu lại là một loại giấy tờ khác thuộc lĩnh vực khác.

Nước ngoài thì như vậy, ta nên như thế nào? Chắc chắn rằng ngay bây giờ chưa thể rập khuôn theo họ được.

Một trong những điều cơ bản nhất khi biên soạn luật pháp là phải tính toán xem đã có đủ lực lượng để thực thi những điều quy định chưa? và phải dự kiến các phản ứng của các đối tượng bị điều chỉnh như thế nào? (Ví như nếu ta quy định tất cả các nhà xây dựng ở nông thôn, miền núi đều phải có giấy phép, nghe thì sướng tai nhưng nếu thực hiện thì lấy đâu ra cán bộ và kinh phí để thực thi Luật). Hiện nay đang xuất hiện cao trào cải cách hành chính, tinh giảm biên chế, tránh đẻ ra giấy nọ giấy kia để hành dân, hành doanh nghiệp.Đứng trước sóng gió của cao trào, trước dư luận của báo chí và phản ảnh của cử tri, nhiều cơ quan quản lý đã e ngại, rụt rè và đã “buông giáo mác” từ bỏ công cụ quản lý của mình.

Xin được trở lại vấn đề nêu lúc đầu. Vậy ở Việt Nam ta nên giải quyết vấn đề “Giấy chứng nhận chất lượng công trình” như thế nào cho phù hợp. Theo thiển nghĩ của chúng tôi thì:

1- Không nên dùng một tổ chức tư vấn độc lập cấp giấy này, lý do vì sao đã được phân tích ở trên.

2- Đối với công trình, dự án đầu tư đã được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt (không cần giấy phép xây dựng):

a) Tại những công trình đã có Hội đồng nghiệm thu Nhà nước thì hoàn toàn không cần loại giấy này, biên bản nghiệm thu của Hội đồng chính là chứng chỉ sử dụng công trình.

b) Đối với các công trình còn lại ( quy định tại điều 28 của Nghị định 209/2004/NĐ-CP) cần thành lập Hội đồng nghiệm thu cơ sở, biên bản nghiệm thu của Hội đồng cũng thay cho chứng chỉ, nhưng trong Hội đồng phải có thành phần của cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng ở địa phương và đại diện của cộng đồng (1).

Chúng tôi đề nghị: Thành phần của Hội đồng nghiệm thu cơ sở gồm: chủ đầu tư, nhà thầu giám sát thi công, nhà thầu thiết kế, nhà thầu thi công, đại diện cơ quan quản lý xây dựng hoặc xây dựng chuyên ngành ở địa phương (tùy theo thể loại công trình) và đại diện của cộng đồng. Phải có quy chế chặt chẽ về trách nhiệm và hoạt động của Hội đồng nghiệm thu và vai trò của đại diện cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng ở địa phương . Trong Nghị định 209 cũng đã có nhiều mục quy định rất rõ về nội dung nghiệm thu, nhưng có thể hướng dẫn chi tiết hơn.

3- Trong tương lai gần, cần chuẩn bị đầy đủ lực lượng cho cơ quan quản lý để tiến tới cấp chứng chỉ sử dụng cho các loại công trình trên. Đối với công trình phải có giấy phép xây dựng thì cơ quan cấp giấy phép xây dựng tiến tới phải là cơ quan cấp chứng chỉ sử dụng công trình. Hiện nay thanh tra xây dựng ở các Sở, quận huyện, phường đã có một số nhưng chủ yếu họ làm việc kiểm tra việc khiếu kiện, khiếu nại là chính còn việc kiểm tra chất lượng công trình chưa được quan tâm, trong tương lai họ phải làm việc này, kinh phí hoạt động của họ một phần lấy từ phí, lệ phí cấp chứng chỉ, đội ngũ của họ cũng phải được cải tiến về cơ cấu, có đầy đủ chuyên môn cần phải thanh tra.

4- Đối với những trường hợp được nêu trong khoản 2 Điều 28 của Nghị định 209/2004/NĐ-CP và trong điểm b) khoản 2 phần Quy định chung của Thông tư 11/2005/TT-BXD tức là những nghi ngờ khúc mắc phát sinh về chất lượng công trình tuy đã được cấp chứng chỉ rồi thì phải điều chỉnh bằng văn bản khác vì nó mang tính đặc thù, cá biệt, không phổ biến. Trong trường hợp này sử dụng Tổ chức tư vấn độc lập để xác minh những khúc mắc, nghi ngờ về một nội dung nào đó của chất lượng thì lại là giải pháp tốt. Giải quyết vấn đề cá biệt và vấn đề đại trà bằng cùng một biện pháp là điều tối kỵ trong các văn bản pháp luật

5- Nên gọi tên là Chứng chỉ sử dụng công trình, không nên dùng Giấy chứng nhận chất lượng công trình vì cụm từ Chứng chỉ sử dụng bao hàm nghĩa rộng, toàn diện và mạnh mẽ hơn.

Ngoài ra, theo chúng tôi cũng nên nghĩ đến khả năng dùng kinh tế thị trường để điều tiết chất lượng. Ví như khuyến khích các chủ sử dụng mua bảo hiểm cho công trình. Chúng ta đều biết, không nhà bảo hiểm nào dám bán bảo hiểm cho những công trình chất lượng quá tồi, mà một khi công trình như thế không được mua bảo hiểm thì dịch vụ trong công trình đó không ai dám tham gia. Vì thế vấn đề chất lượng chính là vấn đề sống còn của chủ sử dụng công trình. Cũng giống như bảo hiểm thân thể, các nhà bảo hiểm thường không dám bán hoặc nếu bán thì sẽ rất cao đối với những người đã quá già hoặc mắc các chứng bệnh hiểm nghèo.

Trên đây là đôi điều mạo muội, chân thành gửi tới các nhà biên soạn Thông tư số 11/2005/TT-BXD để tham khảo.q

(1)Thực hiện Quyết định số 80/2005/QĐ-TTG ngày 18 tháng 4 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về Quy chế giám sát đầu tư cộng đồng- Đại diện cho cộng đồng là người do Mặt trận Tổ quốc địa phương lựa chọn và cử ra, vị này phải là người có kinh nghiệm quản lý và có chuyên môn, làm việc theo tinh thần tự nguyện, được hưởng một phần phụ cấp và được quyền theo dõi công trình từ đầu.

Các tin khác:

- Tổng Hội Xây dựng Việt Nam tập hợp và công bố địa chỉ 43 dự án cấp tỉnh có lãng phí thất thoát, 30 vụ vi phạm đất xây dựng ở các địa phương cùng những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này

- Ưu đãi khoa học phải dựa trên kết quả nghiên cứu



Head office: 625A La Thanh Str., Hanoi,Vietnam - Tel: 84-4-8314732 - Fax: 84-4-8314735
Website: - Email:

Copyright ? 2004 by VIFCEA. All rights reserved.
Designed by CAC.