TỔNG HỘI XÂY DỰNG VIỆT NAM

TIẾNG ANH  |  HỖ TRỢ  | TRANG CHỦ

Diễn đàn xây dựng

Giới thiệu Tổng hội

Điều lệ Tổng hội

Cơ cấu tổ chức

Hội chuyên ngành

Hội tỉnh thành

Viện/Trung tâm/Công ty

Tin hoạt động

T/c "Người Xây dựng"

Ứng dụng CNM trong XD

Hội viên CN và TT

Số lần truy cập

This counter provided for free from HTMLcounter.com!

CÁC ĐƠN VỊ TÀI TRỢ
 Tài trợ vàng
 Tài trợ bạc
 Tài trợ đồng
 Tài trợ khác
CÁC ĐƠN VỊ QUẢNG CÁO
 
 
 
 
 
 
 

DIỄN ĐÀN XÂY DỰNG

Ngành điện nên xét kỹ lại dự thảo tổng sơ đồ 6 về chiến lược phát triển điện lực Việt Nam trước khi trình chính phủ

Huỳnh Kim Trương
PNguyên Tổng Thư ký Hội đồng
Nghiệm thu Thủy điện Thác Bà

Theo tin báo chí, ngành điện đang xem xét Tổng sơ đồ 6 về phát triển điện lực giai đoạn 2006-2015, có xét đến năm 2025, do Viện Năng lượng soạn thảo, để sớm trình Chính phủ, với hai chuyển hướng, trong cơ cấu nguồn, chưa được hợp lý, nên tôi, một người trong cuộc, phải viết bài này đề nghị ngành xem xét lại cho kỹ trước khi trình.

Một là, tại sao hạn chế phát triển thủy điện, khi Việt Nam đang có ưu thế lâu dài là một nước thuộc vùng nhiệt đới ẩm, với vũ lượng hàng năm tương đối cao, để ưu tiên phát triển nhiệt điện than, khi nguồn than đá của Việt Nam đâu thể là vô tận?

Hai là, trong một thời gian rất dài đến 2025 mà Việt Nam chưa thể dứt điểm được việc phải nhập khẩu một ít điện từ Trung Quốc như hiện nay, chỉ là việc bất đắc dĩ thôi, khi ta chưa kịp thanh tra đôn đốc tiến độ thi công các công trình điện đã khởi công, để chẳng những tự lực được trong nước mà tiếp tục xuất khẩu điện đưa điện sang Kampuchia như ta đã khởi xướng, khi đã mở ba cửa khẩu tại 2 tỉnh Tây Ninh, tỉnh An Giang trên biên giới hai nước.

1. Việt Nam không nên và cũng không thể đưa nhiệt điện than lên hàng đầu trong cơ cấu các nguồn thay cho thủy điện? Than đá Việt Nam đâu thể là một “lợi thế về nguồn tài nguyên dồi dào và sẵn có”, như dự thảo Tổng sơ đồ 6 đã nêu? Than đá tập trung nhiều ở tỉnh Quảng Ninh, một số tỉnh khác cũng có lẻ tẻ không đáng kể, đã bị thực dân Pháp khai thác không thương tiếc, trong gần một thế kỷ, khi Pháp còn cai trị nước ta. Sau khi giải phóng ta chỉ khai thác “ăn mót” một ít than còn sót trên mặt đất, nên đã phải chịu đổ nhiều mồ hôi, lẫn cả máu, chui xuống những hầm lò sâu trong lòng đất, bao năm trời, mới có được lượng than như hiện nay, để tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Hiện nay than đá Quảng Ninh đang là “cần câu cơm” của đa số nhân dân lao động trên địa bàn., Nếu ngay từ bây giờ, nhà nước ta không đề ra chính sách triệt để tiết kiệm than đá tiêu dùng trong nước và hạn chế dần việc xuất khẩu, để nạn cạn kiệt sớm xẩy ra, thì đời sống của nhân dân lao động địa phương sẽ ra sao?

2. Nên tiếp tục dành ưu tiên hàng đầu cho thủy điện trong cơ cấu nguồn điện Việt Nam như xưa nay do thủy điện đã được coi là nguồn điện sạch nhất so với các nguồn và tại Việt Nam nguồn nước để làm thủy điện không thể cạn kiệt được. Cái khó khăn mà ngành điện thường nêu ra đối với thủy điện là dễ bị ảnh hưởng bởi thời tiết, mùa mưa nhiều nước nên thừa điện, chưa biết làm gì cho hết nên phải cho một số nhà máy điện ngừng chạy hoặc cho chạy vô công. Đến mùa khô lại thiếu điện do thủy điện thiếu nước, nên phải cắt điện luân phiên, gây nhiều khó khăn cho các cơ sở sản xuất và cho sinh hoạt của dân. Khó khăn đó là có thật, nhưng ngành điện đã có hướng khắc phục rất cơ bản từ năm 2003, sao không áp dụng? Nhớ lại năm 2003, Tổ chức Hợp tác Quốc tế Nhật Bản JICA (Japan International Cooperation Agency) đã giới thiệu kinh nghiệm khắc phục của Nhật Bản, bằng một mô hình được gọi là “Thủy điện tích năng”, tức là dùng điện thừa trong mùa mưa để bơm nước vào các hồ đào cạnh các đập thủy điện để dự trữ nước cho mùa khô, sẽ cho chảy xuống hồ thủy điện cũ, chạy đủ công suất, hoặc lắp thêm tuốc - bin thành một nhà máy thủy điện nhỏ, phát điện bổ sung cho lưới điện quốc gia (pumped storage power plan). JICA cũng đã gửi chuyên gia Nhật hướng dẫn Việt Nam đi khảo sát tìm ra 38 địa điểm tiềm năng có thể làm thủy điện tích năng khi cần. Rồi Bộ Công nghiệp đã hứa đến năm 2006 sẽ mời chuyên gia Nhật sang giúp Việt Nam làm thử nghiệm thủy điện tích năng tại xã Vinh Quang huyện Vĩnh Thanh tỉnh Bình Định (Báo Tuổi trẻ Chủ nhật 28/9/2003). Đến nay gần hết năm 2006, sao chưa thấy ngành điện có động thái gì với lời hứa này hoặc tự mình làm thủy điện tích năng?

3. Rất may là trong khi Viện Năng lượng soạn thảo Tổng sơ đồ 6 theo một xu hướng rất lạ là chỉ cho tăng các nguồn điện “phi thủy điện” (Báo Đầu tư 12/6/2006) thì trên thực tế gần như toàn bộ ngành điện lực Việt Nam từ Nam chí Bắc, đã được Bộ Công nghiệp và Chính phủ cho phép phát triển thủy điện lên tầm cao mới: mạnh dạn cổ phần hóa các cơ sở quốc doanh, tư nhân hóa nhiều nguồn thủy điện nhỏ và đẩy mạnh hợp tác quốc tế để thu hút vốn nước ngoài vào Việt Nam làm thủy điện hoặc đưa các nhà đầu tư Việt Nam ra nước ngoài làm thủy điện rồi chia phần kéo về bổ sung điện lưới quốc gia.

Trên toàn quốc đã hết sức hỗ trợ cho Tổng công ty Sông Đà liên doanh với UCRAINA, đã từng bán cho ta nhiều thiết bị thủy điện, để nâng cấp “Công ty liên doanh Sông Đà - UCRIN” đã có từ 8 năm nay, lên thành một “Tập đoàn kinh tế hùng mạnh, đủ sức thiết kế, cung cấp thiết bị sản xuất tại Việt Nam, thầu thi công theo kiểu EPC (chìa khóa trao tay) và khi cần có thể đầu tư BOT làm thủy điện trong nước hoặc các nước trong khu vực, và đang đưa quân làm nhiều nhà máy thủy điện lớn trong nước và ở nước Lào láng giềng.

Ở miền Bắc, “Công ty Liên doanh Cổ phần Xây dựng Việt Trung” được khẩn trương thành lập để tháng 8/2006 thi công được ngay Nhà máy thủy điện Séo Choong Hô (Lao Cai), sau đó sẽ nhận thầu với các Sở Công nghiệp Việt Nam thi công một mạng lưới 37 trạm thủy điện dọc các tỉnh biên giới Việt - Trung là Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang và Lạng Sơn.

Ở miền Trung cũng đã lập xong “Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Điện Việt – Lào” để đưa lực lượng sang Lào, thi công một thủy điện loại lớn là Xekhaman 3 tại huyện Dăk Chưng tỉnh Sê Kông, công suất 250MW vốn đầu tư BOT là 273,1 triệu USD, rồi hợp tác với Lào xây thêm 17 thủy điện mới, vốn đầu tư 343,1 triệu USD để kéo một phần điện về Việt Nam.

Ở Tây Nguyên lại xuất hiện một “mô hình thủy điện mới” sau khi nhà nước kêu gọi tư nhân tham gia làm thủy điện, với ưu đãi là miễn thuế sử dụng đất, để bán điện lại cho lưới điện quốc gia nên có kỹ sư Nguyễn Quyền, một cựu quan chức ngành điện về hưu, huy động vốn gia đình, bạn bè và vay thêm tín dụng được hơn 100 tỷ đồng, xây dựng Nhà máy Thủy điện tư nhân Krông Hin, công suất 5000KW, tại Đắc Lắc, bán điện lại cho Tổng Công ty Điện lực với giá 600 đồng/kw, rồi kéo nước tưới 530ha cà phê cho một nông trường và cung cấp nước sinh hoạt cho dân ở 2 xã kế cận. Sau khi thành công, kỹ sư Quyền đã lập “Công ty Thủy điện Mêkông”, định xây thêm hai thủy điện mới, trong đó có thủy điện Dak Pri ở tỉnh Đắc Nông, có công suất 10.000KW, vốn đầu tư 200 tỷ đồng. Từ đó nhân dân hai tỉnh Đắc Lắc và Đắc Nông, thấy kỹ sư Quyền làm ăn có uy tín, nên đã đến nhờ Công ty Mê Kông tìm giúp địa điểm để xây dựng thủy điện cùng với nhà nước và ông Nguyễn Đức Trọng, phó giám đốc Sở Điện lực Đắc Lắc hứa sẽ tạo điều kiện cho dân đầu tư làm thủy điện tư nhân (Báo Tuổi trẻ cuối tuần ngày 13/8/2006).

Cũng theo tin báo chí ở Nam Tây Nguyên và Nam Trung Bộ trong tháng 6/2006 vừa qua, sau khi UBND tỉnh Lâm Đồng, Tổng Công ty Điện lực Việt Nam và Bộ Công nghiệp cho phép thành lập “Công ty Cổ phần Thủy điện Miền Nam” với nhiều cổ đông, trong đó có Công ty Điện lực 2, để triển khai dự án thủy điện Đà Dằng 2 (công suất 24MW) Dasiat (14MW) Đambri (70MW) Văn Minh (6MW) trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng với vốn đầu tư 2.232 tỷ đồng. Rồi Công ty Điện lực 2 liên doanh với Công ty Điện lực 3 và một số doanh nghiệp khác để xây dựng thủy điện Sông Tranh 2 (162MW) tại Quảng Nam và một thủy điện khác (120MW) tại tỉnh Thừa Thiên Huế (Báo Tuổi trẻ 17/6/2006).

Ở Nam Bộ, Tổng Công ty Điện lực, sau khi cho hoàn thành cặp thủy điện Đami-Hàm Thuận trên hệ thống thủy điện sông Đồng Nai và nâng cấp thủy điện Thác Mơ tại tỉnh Bình Phước, đã triển khai nhà máy thủy điện Srok Phu Miêng (51MW) cũng tại Bình Phước định đến tháng 10/2006 sẽ hoàn tất. Sau đó sẽ phát triển sang hệ thống sông Đồng nai, thành một chuỗi thủy điện, giống như nước Pháp trên sông Rhône có chiều dài như sông Đồng Nai mà đã làm đến 22 đập thủy điện, nay còn định làm thêm vài đập mới ở thượng nguồn sông Rhône.

Đối với nước láng giềng Kampuchia, sau khi đã mở ba cửa khẩu nhập điện từ Việt Nam, tại hai tỉnh biên giới là Tây Ninh và An Giang, vẫn muốn nhập thêm điện Việt Nam một cách lâu dài, nhưng theo tôi nghĩ Kampuchia có vùng Tây Bắc với đồi núi và sông suối như ở Lào, ta nên liên hệ tổ chức liên doanh Kampuchia-Việt Nam để các nhà đầu tư Việt Nam sang đó làm thủy điện như ta đã làm với Lào, để chia một phần điện đưa về Việt Nam, có tốt hơn không?

4. Kết luận

Như thế là từ đầu năm 2006 tại Việt Nam, từ Bắc chí Nam đã bùng phát một cơn sốt thủy điện, nhiều nhất là thủy điện vừa và nhỏ, của quốc doanh lẫn tư nhân theo hướng cổ phần hóa và tư nhân hóa. Đến khi cụm thủy điện đầu đàn trên sông Đà gồm có thủy điện Hòa Bình (1920MW) thủy điện Sơn La (2400MW) thủy điện Lai Châu (1200MW) thủy điện Huối Quảng (520MW) chuyển động song hành với các hệ thống thủy điện vừa và nhỏ trong toàn quốc và cả trên nước bạn Lào, thì trong tỷ trọng cơ cấu nguồn làm sao hạn chế được cho nó thấp hơn nguồn điện than cho đúng ý tưởng của người soạn thảo Tổng sơ đồ 6 như nêu trên?!

Cho nên tôi xin kết thúc bài viết này với lòng mong ước là Tổng sơ đồ 6 về phát triển chiến lược ngành điện lực Việt Nam tuy “nói vậy mà không phải vậy”.

Các tin khác:

- Tổng Hội Xây dựng Việt Nam tập hợp và công bố địa chỉ 43 dự án cấp tỉnh có lãng phí thất thóat, 30 vụ vi phạm đất xây dựng ở các địa phương cùng những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này

- Ưu đãi khoa học phải dựa trên kết quả nghiên cứu



Head office: 625A La Thanh Str., Hanoi,Vietnam - Tel: 84-4-8314732 - Fax: 84-4-8314735
Website: - Email:

Copyright ? 2004 by VIFCEA. All rights reserved.
Designed by CAC.