banner

Chào mừng đã ghé thăm website Tổng Hội Xây Dựng Việt Nam

banner
Trang chủ
Giới thiệu Tổng hội
Tin tức và sự kiện
Đổi mới Quản lý
Tiêu điểm
Thông tin hoạt động Tổng hội
Quy hoạch - Kiến trúc - Đô thị và xã hội
Diễn đàn xây dựng
KH-CN - Sản phẩm mới
Thị trường xây dựng
Doanh nghiệp XD: Năng lực và hoạt động
Văn hóa - Thư giãn
Tạp chí Người xây dựng
Nhìn ra nước ngoài

1 User online
Công ty TNHH Sơn Trường

Công ty CP bê tông và xây dựng Vinaconex-Xuân Mai

Công ty CP bê tông và xây dựng Vĩnh Tuy


Một số giải pháp xây dựng nền móng cho nhà cao tầng (tiếp theo)

Nguyễn Trường Hưng


III. Móng cọc nhồi
Móng cọc nhồi là loại móng cọc mà khi thi công người ta sử dụng thiết bị làm cọc tạo lỗ, rồi đặt khung cốt thép và đúc bê tông ngay tại hiện trường xây dựng.
Trong những thập kỷ gần đây, cọc nhồi ngày một áp dụng phổ biến để xây dựng nền móng cho nhà cao tầng tại Việt Nam. Nhà cao tầng có đặc điểm rất lớn là:
Tải trọng nặng lại tập trung chủ yếu tại chân các cọc nhà. Ngoài ra, nhà cao tầng rất nhạy cảm với độ lún, đặc biệt là lún lệch vì lún sẽ gây tác động quan trọng đến trạng thái làm việc tổng thể của nhà. Nhà cao tầng lại thường được xây dựng tại những khu vực đô thị đông dân cư, mật độ của các công trình khá dày. Do đó, trong thời gian thi công phải bảo đảm an toàn cho các ngôi nhà liền kề vốn có và bảo đảm những điều kiện môi trường xung quanh.
Cọc nhồi nói chung và cọc khoan nhồi nói riêng đáp ứng được những yêu cầu nói trên. Ngoài ra, thi công cọc khoan nhồi còn tránh được tiếng ồn quá mức (do dùng búa đóng như đối với cọc bê tông cốt thép đúc sẵn, do động cơ của các thiết bị vận chuyển và hạ cọc…). Hơn nữa, nếu sử dụng móng cọc barrette (một dạng đặc biệt của cọc khoan nhồi) làm các tầng hầm cho nhà cao tầng sẽ rất thuận tiện và công trình giảm được tải trọng do lấy đi lớp đất mà các tầng hầm chiễm chỗ; mặt khác có tầng hầm thì nhà cao tầng sẽ tăng độ ổn định khi chịu lực nằm ngang và công trình có thêm diện tích sử dụng.
Xét về mặt hình dáng, thường thường cọc nhồi gồm các dạng sau (xem hình 9).
- Cọc nhồi đơn giản là cọc hình trụ tròn tiết diện ngang không thay đổi trên suốt chiều sâu của cọc.
- Cọc nhồi mở rộng đáy là cọc hình trụ tròn khoan bình thường, nhưng khi gần đến đáy thì dùng gầu đặc biệt hoặc các biện pháp khác để mở rộng đáy hố khoan,
- Cọc được mở rộng đáy và mở rộng nhiều vị trí ở thân cọc. Loại này sẽ tăng sức chịu tải hơn nhiều so với cọc thông thường.
- Cọc barrette là loại cọc nhồi có tiết diện ngang hình chữ nhật, chữ L, chữ I, chữ H. Về thực chất, nó là những bức tường bê tông cốt thép nằm sâu trong đất. Cọc này có sức chịu tải lên tới 6.000tấn và rất ưu việt khi ta phải xây nhà cao tầng có nhiều tầng hầm vì nó chính là tường cừ chống sập lở xung quanh nhà, lại vừa để chống nước cho các tầng hầm.
Ưu điểm của cọc khoan nhồi nổi bật ở những mặt sau:
- Khi thi công cũng như khi sử dụng, cọc khoan nhồi bảo đảm được an toàn cho các công trình vốn có xung quanh nhà cao tầng.
- Trong quá trình thi công móng cọc, dễ dàng thay đổi các thông số của cọc như chiều sâu cọc, đường kính cọc. Nhờ việc tăng chiều sâu cọc và đường kính cọc, ta có thể làm tăng sức chịu tải của cọc để giảm bớt số lượng cọc cũng như thời gian thi công cọc.
Có thể xuyên qua các tầng sét cứng, cát chặt ở giữa nền đất để xuống các độ sâu lớn hơn cần thiết.
- Đầu cọc có thể chọn ở độ cao tùy ý cho phù hợp với yêu cầu của kết cấu bên trên và quy hoạch mặt bằng kiến trúc.
Nhược điểm khi sử dụng cọc khoan nhồi là:
- Cần phải có thiết bị tốt, đầu tư cao cho các máy thi công dẫn tới giá thành công trình tăng;
- Khi xuyên qua vùng đất có carstơ hoặc đá nứt nẻ lớn phải dùng ống chống để lại (không rút lên) sau khi đổ bê tông nên giá thành công trình cao.
- Khó kiểm tra chất lượng lỗ cọc và thân cọc sau khi đổ bê tông.
A. Phân loại theo công nghệ thi công và phạm vi sử dụng
Căn cứ vào các công nghệ thi công khác nhau, cọc nhồi được phân ra các loại như: cọc nhồi được khoan tạo lỗ bằng guồng xoắn, cọc nhồi được tạo lỗ rồi dùng dung dịch vữa sét bentonit giữ thành vách, cọc nhồi được tạo lỗ bằng ống chống, cọc nhồi được khoan tạo lỗ rồi mở rộng chân bằng phá nổ .
1. Cọc khoan nhồi được khoan tạo lỗ bằng guồng xoắn chủ yếu là dùng các cánh của guồng xoắn rút đất ra và có thể khoan lỗ mở rộng chân cọc hoặc dùng áp lực nhồi vữa xử lý chân cọc. Loại cọc này thích hợp với điều kiện thi công tạo lỗ ở trên mực nước ngầm, cũng có thể tạo lỗ trong tầng cát. Nhưng như gặp phải tầng đá cuội cát có nhiều đá cuội thì dễ bị sụt lở vách, khó khăn cho việc tạo lỗ. Trong trường hợp lớp đất bên trên đọng nước, có thể dùng phương pháp tạo lỗ bằng nước áp lực ở đầu guồng xoắn hoặc dùng dung dịch vữa sét bentonit để giữ vách.
2. Cọc nhồi được tạo lỗ với dung dịch vữa sét bentonit giữ vách thích hợp với điều kiện địa chất có mực nước ngầm cao. Dựa theo các thiết bị khác nhau, lại phân ra: phương pháp tạo lỗ bằng khoan quay gầu ngoạm xung kích và phương pháp tạo lỗ bằng khoan dưới nước. Phương pháp khoan quay gầu ngoạm xung kích thích hợp với đất nền có đá dăm, đất cát, đất sét và đá phong hóa. Phương pháp khoan dưới nước thích hợp với đất sét dẻo nhão, bùn, than bùn.
3. Cọc nhồi được tạo lỗ bằng ống chống phân ra hai loại: cọc búa đập và cọc chấn động thích hợp với các loại đất sét dẻo, dẻo nhão, đất cát chặt vừa và cát rời.
4. Cọc nhồi được tạo lỗ rồi mở rộng chân bằng phá nổ thích hợp với các loại nền đất sét, đất đá dăm và đá phong hóa ở trên mực nước ngầm.
B. Thi công cọc khoan nhồi
1. Phương pháp thi công: Chúng tôi tập trung giới thiệu ba phương pháp sau:
a. Phương pháp khoan tạo lỗ bằng guồng xoắn rồi nhồi bê tông.
Phương pháp này thường dùng để làm cọc khoan nhồi bê tông với cách tạo lỗ khô. Sức chịu tải của cọc phần lớn do lực masát tạo nên. Sức chống tại chân cọc tương đối nhỏ. Chiều dài của khung cốt thép được xác định theo tính toán với lực nằm ngang.
b. Phương pháp khoan tạo lỗ rồi đổ vữa xi măng (xem hình 11)
Khả năng chịu tải của cọc được thi công bằng phương pháp này tương đối nhỏ. Khi tầng trên có đọng nước thì việc đổ vữa xi măng có lợi để giữ vách không bị sụt lở. Phương pháp này thích hợp khi làm cọc vách của tường chắn đất. Trong trường hợp này, khung cốt thép phải kéo dài tới chân cọc.
c. Phương pháp khoan tạo lỗ rồi đổ vữa bằng áp lực (xem hình 12)
Trong lỗ khoan đồng thời đặt từ 1-4 ống rót vữa như hình 12c biểu thị. Rồi lấp đầy lỗ bằng cốt liệu đá sỏi.
Sau đó đổ vữa xi măng qua ống rót vữa để dẫn tới chân cọc. Đồng thời từ từ rút ống rót vữa lên. Phương pháp này thích hợp với việc thi công cọc nhồi ở trên mực nước ngầm.
2. Trình tự công nghệ thi công
a. Chuẩn bị hiện trường
Hiện trường khoan lỗ phải bằng phẳng, được nén kỹ, đầm chặt; khi thi công trong mùa mưa, ta phải đầm nén đất trộn vôi bột để bảo đảm cho máy khoan lỗ an toàn di chuyển, lỗ khoan thẳng đứng, cao trình của mặt đất thường bằng cao trình mép trên của bệ đỡ để tránh tình trạng cốt thép lộ ra ngoài ảnh hưởng đến thi công. Trước khi khoan lỗ, ta phải làm phẳng mặt nền, định tuyến, định vị cọc và kiểm tra lại kỹ nhất là định vị.
b. Lộ trình công nghệ tạo lỗ bằng guồng xoắn tác nghiệp khô
Dịch chuyển máy khoan rồi định vị đ đặt cọc tiêu đánh dấu vị trí cọc đ chỉnh ngay ngắn thân xe máy khoan đ chỉnh đứng cần khoan đ nhằm đúng vị trí cọc (dùng vòng định vị) đ khoan xuống và luôn chú ý tới độ thẳng đứng của cần khoan đ Khoan tới độ sâu dự kiến, khoan chạy không tải, làm sạch đáy lỗ khoan đ Nâng khoan lên đ kiểm tra chất lượng tạo lỗ đ Đậy nắp cẩn thận.
c. Đo độ sâu khoan
Trong khi khoan, phải dùng thước đo độ sâu trên máy khoan hoặc thước dây được lắp ở đầu máy để biết chắc được độ sâu lỗ khoan, khi dừng khoan là biết được đã khoan tới đâu. Sau khi nâng cần khoan lên, dùng quả dọi đo chiều sâu (trên thước dây) và đèn pin để xác định chiều sâu lỗ khoan. Chiều sâu khoan trừ đi chiều sâu đo được, ta có chiều dầy đất.
d. Khống chế đường kính cọc
Khi khoan xuống gặp phải tầng đất có nhiều gạch đá hoặc lớp đất sét dẻo có hàm lượng nước cao thì phải đề phòng hiện tượng do cần khoan rung động làm rộng thêm đường kính cọc, phải tránh tình trạng vách lỗ bám đất bị sáo động và đất rơi nhiều xuống đáy hố khoan.
e. Làm sạch đáy lỗ khoan
Sau khi khoan tới độ sâu dự kiến, phải tiến hành khoan không tải ở độ sâu đó để làm sạch đất. Sau đó ngừng quay, nâng cần khoan lên, quay không tải để làm sạch đất. Không nên khoan sâu tiếp nữa. Khi chiều sâu đất bị sáo động ở đáy lỗ vượt quá quy định, ta phải phân tích nguyên nhân để tìm biện pháp xử lý.
f. Làm sạch đất và phòng ngừa sụt lở vách lỗ khoan
Trong quá trình khoan lỗ, ta phải kịp thời làm sạch đất rời rơi trên mặt đất. Khi khoan vào đất cát mà gặp nước ngầm, độ sâu khoan không nên vượt quá mực nước ngầm được phát hiện để tránh sụt lở lỗ khoan.
g. Kiểm tra chất lượng tạo lỗ
Nội dung của bước này bao gồm kiểm tra chiều sâu tạo lỗ, lớp đất dưới chân cọc, chiều dày lớp đất bị sáo trộn ở đáy lỗ, hiện tượng sụt lở của vách lỗ, tình hình co thắt, dãn nở của lỗ, độ thẳng đứng của lỗ và dung sai nằm ngang của đỉnh cọc. Tất cả những số liệu trên đều phải được ghi trong bản nhật ký làm cọc.
3. Thiết bị thi công
Máy khoan lỗ cọc thường là loại xe bánh xích có giá đỡ, thanh dẫn, máy phát điện, cần khoan có guồng xoắn và ống thải đất cũng như các bộ phận khác hợp thành như hình 13 biểu thị.
Loại xe máy khoan lỗ tự hành có bàn đế và bánh xe di động vận chuyển thuận lợi hơn loại bánh xích nói trên biểu thị trong hình 14.
Mũi khoan của guồng xoắn có lỗ đổ vữa biểu thị trong hình 15.
Kiểm tra chất lượng của cọc khoan nhồi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, trong đó chủ yếu là phải khống chế được cao trình thiết kế của cọc trong thi công. Tại hiện trường phải thường xuyên có người tiến hành ghi chép đầy đủ tình hình trong nhật ký, biên bản như trong quy định của tiêu chuẩn xây dựng TCXD 197:1997 “nhà cao tầng - thi công cọc khoan nhồi”. Việc kiểm tra chất lượng và sức chịu tải của cọc khoan nhồi phải tuân theo Tiêu chuẩn xây dựng TCXD 196:1997 “Nhà cao tầng - công tác thử tĩnh và kiểm tra chất lượng cọc khoan nhồi”.
C. Thi công cọc nhồi được tạo lỗ có vữa trộn thêm bentonit giữ vách
Khi mực nước ngầm rất cao, người ta thường dùng cọc nhồi được tạo lỗ có vữa nước bùn thuần từ những hạt đất nhỏ mà vẫn chưa đủ để bảo đảm ổn định vách lỗ thì phải trộn thêm vào một ít Bentonit, CMC… với một nồng độ thỏa đáng để giữ thành vách khi tiến hành làm lỗ. Rồi đổ bê tông dưới nước sau đó.
1. Phương pháp thi công và trình tự công nghệ
- Đưa xe máy vào đúng vị trí, để thanh dẫn ở tư thế thẳng đứng, dùng gầu ngoạm xoay để đào đất, đổ vào xe vận tải chuyển đi. Đào và múc đất được một số lần thì đổ vữa bùn vào lỗ (xem hình 16a)
- Khi độ sâu của lỗ đạt tới xấp xỉ 5m, cắm ống chống (ống giữ vách) vào lỗ để phòng ngừa đất sụt lở do bị chấn động khi đào lỗ, phải chú ý không để cho mực vữa bùn hạ xuống. Sau khi đã tới tầng chịu lực rồi, còn cần đào tiếp xuống sâu hơn chừng 1m nữa để đủ độ sâu cắm cọc. Nếu gặp phải tầng đá thì dùng búa đập. Sau khi đã tạo lỗ xong, còn phải dùng gầu ngoạm làm sạch đáy lỗ, rồi cẩu đặt khung cốt thép cắm tới độ sâu dự kiến như hình 16b biểu thị.
- Sối nước có áp lực để làm sạch đáy, khiến cho chất cặn lắng nổi lên như hình 16c biểu thị.
- Cắm ống dẫn xuống để tiến hành đổ bê tông dưới nước như hình 16d biểu thị.
- Rút ống dẫn ra như hình 16e biểu thị.
- Hoàn thành đúc xong cọc nhồi như hình 16f biểu thị.
2. Công tác làm sạch đáy
Công tác làm sạch đáy cọc nhồi tạo lỗ có dung dịch bentonit giữ vách là một công tác cực kỳ quan trọng bởi lẽ nó có quan hệ trực tiếp tới sức chịu tải của cọc. Trong quá trình cẩu đặt khung cốt thép và cắm ống dẫn bê tông, ở đáy lỗ cọc có đọng rất nhiều chất cặn lắng cần phải loại trừ ra khỏi lỗ. Chất cặn lắng ở đáy lỗ sẽ làm gia tăng độ lún của cọc và làm giảm sức chịu tải của cọc.
Phương pháp loại trừ chất cặn lắng nói trên là xối nước áp lực để làm sạch như hình 17 dưới đây biểu thị.
a. Cắm ống dẫn xuống. Tốt nhất là sử dụng loại ống dẫn đổ bê tông dưới nước mà bên trong ống có đặt thiết bị phun nước. Thiết bị này thông qua liên kết giữa ống mềm và bơm cao áp để tác nghiệp bơm phun.
Hình 17: xối nước cao áp để làm sạch đáy lỗ
a. Cắm ống dẫn vào; b. Sối nước cao áp; c. Ngừng xối nước, đổ bê tông; d. Rút ống dẫn ra.
b. Sau khi phun xối nước, chất cặn lắng ở đáy lỗ nổi lên trong vữa bùn sét.
c. Ngừng bơm nước; đổ bê tông dưới nước. Khi đó chất cặn lắng sẽ dần dần được đẩy lên trong bê tông. Vữa bùn sét (trộn bentonit) bơm dưới nước được thu hồi về trong lòng móng tụ bùn.
d. Rút ống dẫn ra; chất cặn lắng đọng ở trên bê tông.
3. Bảo đảm chất lượng
a. Việc đặt ống chống giữ vách là rất quan trọng để bảo đảm vị trí mặt bằng của cọc. Yêu cầu độ sai số (độ lệch) giữa tâm của ống chống giữ vách và tâm của cọc không được lớn hơn 50mm. ống chống giữ vách phải chôn trong đất sét sâu không ít hơn 1m và chôn trong đất cát sâu không ít hơn 1,5m.
b. Phải chuẩn bị đầy đủ và đúng yêu cầu các loại vật tư theo quy định cũng như các thiết bị thí nghiệm kiểm tra độ sụt của bê tông, dung dịch bentonit, độ sâu cọc… Dung dịch bentonit phải bảo đảm đủ khối lượng cho công tác thi công và đạt các yêu cầu sau:
pH > 7
Độ nhớt: 29 ~ 50 giây
Hàm lượng bentonit trong dung dịch: 2 ~ 6% (theo trọng lượng)
Hàm lượng cát < 6%
Dung trọng 1,02 ~ 1,15t/m3.
Đây là những yêu cầu đối với dung dịch bentonit trước khi thi công.
c. Phải tìm cách loại trừ chất cặn lắng ở đáy lỗ. Chiều dày của chất cặn lắng trước khi đổ bê tông không được lớn hơn 10cm.
d. Khi đổ bê tông dưới nước, phải thi công liên tục. Vữa bùn sét bentonit trong lỗ phải dùng bơm dưới nước thu hồi về máng chứa. ống dẫn phải liên tục chôn sâu trong bê tông khoảng từ 0,8 ~ 1,3m.
D. Điều cần chú ý khi dùng cọc khoan nhồi để làm nóng nhà cao tầng
Cọc khoan nhồi đã được ứng dụng rất rộng rãi để xây dựng cầu, cảng và nhà cao tầng ở nước ta. Ngay từ những năm 30 của thế kỷ trước, cọc Franki (một loại cọc nhồi phổ biến tại Pháp) đã được sử dụng để làm móng nhà Bưu điện Bờ Hồ, Hà Nội từ trước chiến tranh thế giới lần thứ hai. Móng cọc ống lần đầu tiên được áp dụng khi xây dựng lại cầu Hàm Rồng Thanh Hóa năm 1963. Cầu đó đã được thực thi xây dựng theo phương án cầu liên tục hai nhịp với trụ giữa tựa trên móng cọc ống gồm nhiều cọc có đường kính 1,55m.
Đến thời kỳ đổi mới, với sự bùng nổ của việc xây dựng nhà cao tầng ở nước ta, cọc khoan nhồi lại có cơ hội phát triển nhanh chóng trong mấy thập kỷ gần đây. Thực tiễn đó đã giúp cho những người xây dựng thu thập được nhiều kinh nghiệm trực tiếp thông qua những số liệu thực nghiệm trên công trường.
1. Về sức chịu tải thẳng đứng
a. Kinh nghiệm chỉ rõ, việc xác định sức chịu tải của cọc bằng các phương pháp thí nghiệm ngay tại hiện trường là đáng tin cậy nhất. Trong các phương pháp này thì phương pháp thí nghiệm bằng tải trọng tĩnh cho trị số xác thực nhất vì nó hoàn toàn phù hợp với điều kiện làm việc thực tế của cọc. Vì thế đối với những công trình lớn, quan trọng thì nhất thiết phải thí nghiệm cọc bằng tải trọng tĩnh. Nếu việc thí nghiệm tiến hành trước giai đoạn thiết kế thì kết quả thí nghiệm về sức chịu tải của cọc được dùng để tính toán trong thiết kế. Nếu móng cọc đã được thiết kế trước khi thí nghiệm thì kết quả thí nghiệm được dùng để kiểm tra và sửa đổi lại thiết kế. Ví dụ, nếu thí nghiệm cho kết quả sức chịu tải tính toán của cọc nhỏ hơn trị số đã dùng trong thiết kế thì bắt buộc phải tăng số lượng cọc trong móng, hoặc tăng chiều dài cọc hay tăng tiết diện của cọc (chỉ áp dụng biện pháp tăng tiết diện của cọc khi chưa đúc cọc hàng loạt). Nếu thí nghiệm cho kết quả sức chịu tải tính toán của cọc lớn hơn trị số đã dùng trong thiết kế thì giải quyết theo cách ngược lại.
b. Đối với nhà cao tầng, công tác thử tĩnh và kiểm tra chất lượng cọc khoan nhồi, phải tuân thủ tiêu chuẩn xây dựng TCXD 196:1997.
c. Sức chịu tải của cọc khoan nhồi không chỉ liên quan đến tính chất của địa tầng, kích thước thân cọc mà còn chịu ảnh hưởng rất lớn của công nghệ thi công và chất lượng thi công. Nếu đất rỗng hơn hoặc trong cọc bê tông có kẹp tầng dễ tạo ra khe hở giữa lỗ khoan và bê tông đổ tại chỗ, ảnh hưởng lớn đến sức chịu tải của cọc. Do đó quy trình thi công thực sự quan trọng đối với việc bảo đảm chất lượng của cọc.
2. Về sức chịu tải nằm ngang
a. Theo kết quả điều tra các trận động đất trên thế giới về tai biến động đất đối với móng cọc, ta thấy nguyên nhân chủ yếu của tai biến là do tầng đất bị hóa lỏng và các phân bố đất bị trượt dịch chuyển gây nên. Tuy nhiên phần lớn nhà sử dụng móng cọc đều chỉ bị thiệt hại nhẹ thôi.
b. Khi có động đất, cọc và đất cùng biến dạng với nhau, biến dạng tương đối giữa chúng với nhau chỉ rất nhỏ. ảnh hưởng của chuyển động đất tới thân cọc có thể bỏ qua. Công trình chủ yếu chịu tác động của lực quán tính nằm ngang của kết cấu bên trên.
c. Trong cùng một lớp đất nền, với điều kiện tải trọng như nhau, do kích thước của cọc nhồi lớn nên khả năng chịu lực nằm ngang cao hơn cọc bê tông cốt thép đúc sẵn, tính năng kháng chấn tốt hơn.
d. Dựa theo sự phân tích các số liệu thực nghiệm và điều tra, việc đặt khung cốt thép trong cọc nhồi kháng chấn có thể không nhất thiết phải đặt cốt thép trên suốt cả chiều dài cọc mà có thể giảm cục bộ theo kết quả tính toán cụ thể.
e. Lực cản ma sát tại đáy đài cọc và lực chống mặt bên của đất có tác động khá lớn tới sức chịu lực nằm ngang của cọc (trừ trường hợp lớp đất đó là mềm yếu). Có thể không cần xét đến hiệu ứng nhóm cọc có ảnh hưởng gì đến giảm thấp sức chịu tải nằm ngang.
E. Thi công phần đài cọc
Đài cọc thường được chế tạo bằng bê tông cốt thép đổ tại chỗ hoặc lắp ghép. Với nhà cao tầng, thường thì sử dụng phương pháp đổ tại chỗ.
Hình dáng và kích thước mặt bằng của đỉnh đài cọc phụ thuộc vào hình dáng và kích thước của đáy công trình. Hình dáng và kích thước mặt bằng của đáy đài cọc phụ thuộc vào diện tích cần thiết để bố trí đủ số lượng cọc trong móng theo những quy định về khoảng cách tối thiểu cũng như quy định về khoảng cách từ mép hàn cọc ngoài cùng tới mép ngoài của đài cọc đã được ghi trong thiết kế.
Thực tế thi công chứng minh, tốt nhất là đào đất đến cao trình mặt trên của đài cọc rồi dùng xe lu để lu phẳng. Nơi đỗ xe máy khoan lỗ cũng phải lu phẳng. Nếu trời mưa thì trộn thêm từ 10% ~ 20% vôi bột rồi lu ép phẳng. Sau đó, đưa xe máy khoan lỗ đến, chiều sâu của lỗ tính từ đáy đài cọc, dùng cẩu để đưa khung cốt thép xuống lỗ, rồi đổ bê tông tới cao trình đáy đài cọc, có thể cao hơn từ 5~7cm. Thi công dầm đài cọc có thể đào thành máng, nhưng phải làm sạch đất rời và tạp chất; có thể không cần chống ván khuôn rồi mới đổ bê tông. Phương pháp thi công này có ưu điểm:
1) Tiết kiệm ván khuôn;
2) Dầm đài cọc thấp; đất ở mép bên không dịch chuyển có lợi cho việc chịu lực thẳng đứng và chịu lực nằm ngang;
3) Không cần lấp đất sau đó.
Tiền đề của phương pháp thi công trong máng (không cần ván khuôn) là phải lu lên bằng xe lu và làm sạch đất rời cũng như tạp chất ở đỉnh cọc. Hiệu quả của nó là vừa tiết kiệm công, vừa tiết kiệm vật liệu.



<< Back

 

Nội dung khác:
      Tin hợp tác Việt – Nhật.
      Nhiên liệu từ sinh khối nông nghiệp
      Về nguyên nhân gây hư hại và Biện pháp xử lý bảo vệ đá thiên nhiên
      Lựa chọn hệ thống xây dựng nhà cao tầng (tiếp theo và hết)
      Sử dụng panen dự ứng lực lắp ghép trong xây dựng nhà cao tầng