banner

Chào mừng đã ghé thăm website Tổng Hội Xây Dựng Việt Nam

banner
Trang chủ
Giới thiệu Tổng hội
Tin tức và sự kiện
Đổi mới Quản lý
Tiêu điểm
Thông tin hoạt động Tổng hội
Quy hoạch - Kiến trúc - Đô thị và xã hội
Diễn đàn xây dựng
Công trình
Kiến trúc - Quy hoạch
Môi trường
Đất đai
Nhà ở
KH-CN - Sản phẩm mới
Thị trường xây dựng
Doanh nghiệp XD: Năng lực và hoạt động
Văn hóa - Thư giãn
Tạp chí Người xây dựng
Nhìn ra nước ngoài

1 User online
Công ty TNHH Sơn Trường

Công ty CP bê tông và xây dựng Vinaconex-Xuân Mai

Công ty CP bê tông và xây dựng Vĩnh Tuy


Một số ý kiến về tiêu chuẩn thuật ngữ về xi măng và bê tông Nguyễn Thúc Tuyên

Nguyễn Tiến Trung


Trong bài báo đăng Tạp chí Người Xây dựng tháng 7/2007 tôi đã viết bài “một vài suy nghĩ về tiêu chuẩn xây dựng và sử dụng tiêu chuẩn ở nước ta.
Trong bài này tôi muốn đề cập đến một loại tiêu chuẩn đặc biệt có thể coi là tiêu chuẩn của tiêu chuẩn. Đó là tiêu chuẩn về thuật ngữ. Người Việt Nam ta có nhiều sáng tạo và giầu tư duy; sáng tạo trong khoa học, văn học nghệ thuật và cả trong từ ngữ. Từ động tác ăn có bao nhiêu cách diễn đạt bằng từ như: ăn, chén (đánh chén) sực, măm, sơi, nhậu... Đối với thuật ngữ chuyên môn cũng vậy, loại hỗn hợp bê tông được chế tạo ở trạm trộn để bán cho người xây dựng cũng mang nhiều tên gọi: bê tông trộn sẵn, bê tông hàng hóa, bê tông thương phẩm. Để nói về trạng thái của hỗn hợp bê tông mới trộn khi còn ướt cũng từng dùng nhiều thuật ngữ khi nói và cả khi viết như độ dẻo, độ chảy, độ nhão, độ lưu động, độ linh động, độ cứng (khi hỗn hợp kém dẻo) độ sụt, thực ra độ sụt độ cứng chỉ là những chỉ tiêu thí nghiệm để biểu thị độ dẻo độ khô của hỗn hợp bê tông. Để biểu thị sự biến đổi trạng thái của hồ xi măng diễn biến theo thời gian đã dùng một số thuật ngữ khác nhau: trong tập bài giảng đầu tiên về xi măng ở trường Đại học bách khoa (1958) dùng cụm từ thời gian ngưng kết, trong giáo trình vật liệu xây dựng do Nhà xuất bản Nông thôn in năm 1964 cũng viết thời gian ngưng kết; trong tiêu chuẩn nhà nước về xi măng TCVN 140-64 được ban hành năm 1964 dùng cụm từ thời gian đông đặc; trong giáo trình vật liệu xây dựng do Nhà xuất bản Đại học THCN in năm 1977 và TCXD:191:1996 dùng cụm từ thời gian ninh kết, trong TCVN 2682:1992 về xi măng pooc lăng hai tiêu chuẩn thuật ngữ về xi măng TNVN 5438:2001 và TCVN 5438:2004 và các tiêu chuẩn khác về xi măng sau đó đều dùng thuật ngữ thời gian đông kết tưởng rằng thuật ngữ này đã được chuẩn hóa từ năm 1992, thế nhưng cho đến nay trong nhiều tài liệu khoa học (luận văn, luận án của thạc sỹ và tiến sỹ, báo cáo khoa học, sách chuyên đề) vẫn dùng cụm từ thời gian ninh kết. Thực sự cụm từ ninh kết được dịch từ tiếng Trung Quốc “Ninh chế”. Chữ ninh kết trong tiếng Việt không nói lên gì, nhưng chữ đông kết thể hiện được trạng thái của hồ xi măng trong mấy giờ đầu. Ai cũng biết rằng cần chuẩn hóa thuật ngữ khoa học cũng như những vấn đề khác về khoa học kỹ thuật. ở nhiều nước như Nga, khối SEV trước đây và Mỹ có tiêu chuẩn thuật ngữ về vật liệu, đặc biệt ở Mỹ có tiêu chuẩn ASTM và tài liệu mang tính chất tiêu chuẩn thuật ngữ về xi măng và bê tông của ACI, một số nước khác không làm tiêu chuẩn thuật ngữ riêng, mà để phần thuật ngữ trong tiêu chuẩn cụ thể. Ngành Xây dựng ở nước ta trong những năm qua đã có nhiều cố gắng biên soạn tiêu chuẩn thuật ngữ về xi măng, bê tông, kính xây dựng, vật liệu chịu lửa, trong đó có tiêu chuẩn cấp nhà nước (TCVN) và tiêu chuẩn cấp ngành (TCXD). Sắp tới cần phải soát xét hoặc biên soạn lại và đưa lên cấp nhà nước, vì tiêu chuẩn ngành không còn nữa. Tiêu chuẩn “xi măng - thuật ngữ và định nghĩa” (TCVN 5438:1991) đã được ban hành từ năm 1991, đến năm 2004 tiêu chuẩn này được soát xét lại và thay thế bằng tiêu chuẩn mới (TCVN 5438:2004). Giữa khoảng thời gian đó Bộ Xây dựng ban hành tiêu chuẩn ngành “bê tông và vật liệu làm bê tông - thuật ngữ và định nghĩa”, trong đó cũng có phần thuật ngữ về xi măng và phụ gia (TCXD 191:1996). Như vậy trong cả hai tiêu chuẩn TCVN 5438:2004 và TCXD 194:1996 đều có thuật ngữ về xi măng và phụ gia. Do TCVN 5438:2004 ở cấp cao hơn 191:1996, không hoàn toàn dựa vào TCVN 191:1996, nên trong hai tiêu chuẩn này dùng một số thuật ngữ khác nhau đối với cùng loại vật liệu và tính chất vật liệu ví dụ như phụ gia trơ (TCVN 191:1996) và phụ gia đầy (TCVN5438:2004); xi măng nhôm (TCVN 191:1996) và xi măng alumin (TCVN 5438:2004) thời gian ninh kết (TCVN 191:1996) và thời gian đông kết (TCVN 5438:2004), phụ gia trơ thời gian ninh kết, thì thầy phản biện lại phê phán là dùng từ ngữ không đúng, phải viết là phụ gia đầy và thời gian đông kết của xi măng…
Như vậy là trong các tiêu chuẩn về thuật ngữ đã ban hành vừa có sự trùng lặp, vừa có một số từ không thống nhất. Tôi nghĩ rằng sắp tới nên thống nhất TCVN 5438:2004 và TCVN 191:1999 vào một tiêu chuẩn với tên gọi giống như tên của TCVN 191:1996. Làm như vậy là hợp lý vì những lẽ sau đây: 1. Trong xây dựng, xi măng và bê tông gắn bó với nhau như bóng với hình. Xi măng cũng ghi cốt liệu đều là nguyên liệu, còn bê tông là thành phẩm; 2. Người xây dựng luôn cần biết thuật ngữ cả xi măng và bê tông; nếu tra cứu thuật ngữ trong cùng một tiêu chuẩn, thì rất tiện. Chính vì vậy mà tiêu chuẩn Mỹ SCI 116R-00 cũng bao gồm cả thuật ngữ bê tông và xi măng, cốt liệu, phụ gia.
Tuy TCVN 191:1996 và ScI 116R-00 bao hàm nội dung giống nhau, nhưng cũng có những điều khác nhau khá cơ bản: 1. TCVN 191: 1996 có số lượng từ ít, chỉ có 225 thuật ngữ, trong khi đó ACI 116R-00 bao gồm khoảng 4700 từ, như vậy là gấp hơn 20 lần và số từ nhiều hơn lên tới 4500 từ. Như vậy nội dung ACI 116R-00 rất phong phú, hầu như chứa đựng tất cả những từ có liên quan về bê tông, xi măng, phụ gia và cốt liệu. 2. Thuật ngữ trong TCXD 191: 1996 được xếp theo các mục liên quan như: thuật ngữ chung, vật liệu làm bê tông (xi măng, cốt liệu, phụ gia), thành phần bê tông, các tính chất cơ lý của bê tông, thi công bê tông. Còn ACI 116R viết theo vần A, B, C. cách viết của TCVN 191:1996 có thuận lợi cho ai chưa biết tên thuật ngữ, nhưng biết nó nằm trong mục nào trong tiêu chuẩn, từ đó sẽ tra cứu được dễ dàng, nếu thuật ngữ đó có trong tiêu chuẩn. Còn cách viết của ACI 116R có lợi cho ai đã biết hoặc dự đoán được thuật ngữ sẽ tìm thấy ngay và biết được chính xác cách viết cũng như định nghĩa của thuật ngữ đó. Tất nhiên nếu không biết thuật ngữ thì cũng không thể tra được. Đối với những người đọc sách kỹ thuật bằng tiếng Anh, thì có thể tra các từ cần thiết trong tài liệu ACI 116R, tài liệu này được coi như một quyển từ điển kỹ thuật khá đầy đủ thuộc chuyên ngành bê tông xi măng. Như vậy cách viết của TCVN 191:1996 và ACI 116R đều có ưu điểm nhưng cũng có những nhược điểm, hạn chế nhất định. Về việc tiêu chuẩn mới tôi có một số gợi ý như sau:
- Nên viết tiêu chuẩn thuật ngữ chung cho cả xi măng và bê tông như đã phân tích ở trên và coi tài liệu chuẩn bắt buộc áp dụng. Khi đã có tiêu chuẩn này, thì trong phần thuật ngữ của các tiêu chuẩn về xi măng, cốt liệu và bê tông chỉ cần ghi: theo tiêu chuẩn thuật ngữ này. Tất nhiên tiêu chuẩn thuật ngữ này cũng được viết trong phần tài liệu viện dẫn của các tài liệu liên quan đó.
- Cần tăng số lượng từ trong tiêu chuẩn thuật ngữ này bao gồm các từ có liên quan đến sản xuất xi măng khai thác cốt liệu, tính chất của xi măng, cốt liệu và bê tông, bảo quản nguyên vật liệu và thi công bê tông. Không nên hạn chế số lượng từ, chỉ sợ thiếu, mà không sợ thừa. Từ ngữ trong ACI 116R rất phong phú, nên có thể dựa vào tài liệu này để viết tiêu chuẩn thuật ngữ tiếng Việt, như vậy rất thuận lợi.
- Đối với mỗi thuật ngữ tiếng Việt, nên ghi thêm từ tiếng Anh, mang tính chất đối chiếu để người đọc có thể tra cứu thêm trong ACI 116R hoặc biên dịch chính xác từ ngữ tiếng Anh sang tiếng Việt và ngược lại. Ngoài ra nên ghi chú cả ký hiệu, nếu thuật ngữ đó có ký hiệu. Hiện nay ký hiệu viết trong các tài liệu đã xuất bản không thống nhất. Nếu chuẩn hóa được ký hiệu thì đó là điều rất tốt.
- Thuật ngữ nên được viết theo các đề mục và trong từng đề mục thuật ngữ lại được viết theo vần A, B, C… Như vậy là kết hợp được các ưu điểm trong cách viết của TCVN 191:1996 và ACI 116R. Người đọc sẽ dễ tra cứu hơn khi trong từng đề mục có nhiều thuật ngữ, chứ không ít như trong TCXD 191:1996.
Một tiêu chuẩn như vậy sẽ được biên soạn khá công phu và sẽ rất có ích cho các kỹ sư vật liệu xây dựng, kỹ sư xây dựng nói chung, học viên cao học và nghiên cứu sinh, cũng như các cán bộ khoa học nghiên cứu các đề tài có liên quan đến bê tông và xi măng. Tài liệu này cũng rất có ích cho các nhà sản xuất xi măng và bê tông, các giáo viên dậy vật liệu xây dựng ở các trường đại học và cao đẳng ngành xây dựng, cũng như những người viết giáo trình, tài liệu kỹ thuật và biên dịch các tài liệu, văn bản có liên quan đến bê tông và vật liệu làm bê tông xi măng.
Trên đây là một số gợi ý có liên quan đến tiêu chuẩn thuật ngữ về bê tông xi măng, nhưng cũng có thể vận dụng với mức độ nhất định cho các tiêu chuẩn thuật ngữ về các vật liệu xây dựng khác.
Hy vọng rằng trong tương lai không xa ngành vật liệu xây dựng sẽ có một bộ tiêu chuẩn thuật ngữ đầy đủ hơn, hoàn chỉnh hơn, phục vụ tốt cho sản xuất, xây dựng và đào tạo các cán bộ chuyên ngành vật liệu xây dựng và xây dựng của đất nước.
Tài liệu tham khảo
1. TCXD 191:1996 Bê tông và vật liệu bê tông
2. TCVN 5438:1991 Xi măng - Thuật ngữ
3. TCVN 5439:1991 Xi măng - phân loại
4. TCVN 5438:2004 Xi măng - thuật ngữ, định nghĩa
5. TCVN 5439:2004 Xi măng - Phân loại
6. AIC 116-R-90 Cement and Concrete Terminology
7. ACI 116-R-00 - Cement and concrete Terminilogy ACI manual of Concrete Practice, 2002, Part1A.



<< Back

 

Nội dung khác:
      Những nguyên tắc cơ bản để tiếp cận sinh thái trong thiết kế xây dựng
      Làm đẹp Thủ đô bắt đầu từ những góc phố nhỏ
      Mùa xuân bàn về cái chợ
      Phủ Tây Hồ - Điểm nhấn cảnh quan vùng Hồ Tây Hà Nội
      Bàn về kiến trúc cầu và đường cho khách bộ hành trong đô thị để giảm tai nạn giao thông