banner

Chào mừng đã ghé thăm website Tổng Hội Xây Dựng Việt Nam

banner
Trang chủ
Giới thiệu Tổng hội
Tin tức và sự kiện
Đổi mới Quản lý
Tiêu điểm
Thông tin hoạt động Tổng hội
Quy hoạch - Kiến trúc - Đô thị và xã hội
Diễn đàn xây dựng
KH-CN - Sản phẩm mới
Thị trường xây dựng
Doanh nghiệp XD: Năng lực và hoạt động
Văn hóa - Thư giãn
Tạp chí Người xây dựng
Nhìn ra nước ngoài

1 User online
Công ty TNHH Sơn Trường

Công ty CP bê tông và xây dựng Vinaconex-Xuân Mai

Công ty CP bê tông và xây dựng Vĩnh Tuy


Lựa chọn hệ thống xây dựng nhà cao tầng (tiếp theo và hết)

Nguyễn Hồng Hiệp


4. Kết cấu dạng ống

Kết cấu dạng ống: là loại kết cấu không gian phát triển lên từ kết cấu khung và kết cấu tường chống trượt. Đây là hệ khung kín dạng ống tạo thành  bởi một số khung hoặc tường chống trượt dọc, ngang liên kết với nhau và cùng với hệ sàn nhà cấu tạo nên chỉnh thể.

Kết cấu dạng ống có độ cứng tốt khi phải chịu tải trọng nằm ngang; đồng thời với nó, ta có thể tạo nên những không gian sử dụng tương đối lớn. Do đó, nó thường được áp dụng để xây dựng những ngôi nhà tương đối cao.

Kết cấu dạng ống có thể chia ra các loại: ống đơn, ống trong ống và ống tổ hợp. Kết cấu dạng ống đơn lại có thể chia ra ống trong và ống ngoài. Kết cấu ống trong là chỉ loại ống được hình thành bởi các khối giếng thang máy, buồng thang bộ, gian đặt đường ống kỹ thuật và gian phục vụ tại vị trí giữa của mặt bằng kiến trúc nhà cao tầng; còn vây xung quanh là hệ khung có khoảng cách cột khá thưa. Trong hệ này, ống trong gánh chịu chủ yếu tải trọng nằm ngang và một phần tải trọng thẳng đứng; còn hệ khung ngoài chỉ chịu phần kia của tải trọng thẳng đứng và phần rất nhỏ tải trọng nằm ngang. Loại kết cấu này còn gọi là kết cấu dạng khung – ống.

Kết cấu ống ngoài là chỉ hệ kết cấu mà vùng vây xung quanh bố trí tường chịu lực có mở lỗ cửa hoặc bố trí hệ  khung có khoảng cách cột dày xít và dầm cao. ống ngoài chủ yếu chịu tải trọng nằm ngang và một phần tải trọng thẳng đứng; còn ống trong có độ cứng rất nhỏ, chỉ có thể  gánh chịu một phần tải trọng thẳng đứng và rất ít tải trọng nằm ngang. Hoặc là bên trong chỉ có khung trong và chỉ có thể chịu được tải trọng thẳng đứng mà thôi.

Kết cấu dạng ống trong ống được tạo thành bởi ống trong và ống ngoài, thông qua sự làm việc cộng đồng với sàn nhà, có thể cùng nhau gánh chịu tải trọng nằm ngang rất lớn. Khoảng cách giữa các cột được bố trí dầy xít của khung thường nằm trong vòng 3m trở lại. ống trong thông thường là ống đơn; cũng có khi người ta sử dụng ống 2 lớp hoặc ống 3 lớp. Ví dụ toà nhà Trung tâm Hợp hoà của Hồng Kông có kết cấu ống trong là ống 3 lớp; đường kính ống ngoài là 48m, khoảng cách cột là 3,05m, đường kính ống trong lớn nhất là 22m.

Kết cấu dạng ống tổ hợp bao gồm ống thành bó và ống thành nhóm

ống thành bó là loại ống cấu tạo bởi một số phần tử ống, từ đó hình thành một kết cấu không gian có độ cứng cực lớn. Ví dụ nhà tháp Sears Tower tại Chicago một thời được coi là cao nhất thế giới được cấu tạo bởi 9 ống hình vuông, kích thước mặt bằng của mỗi ống là 22,9 ´ 22,9m; kích thước mặt bằng của cả  ngôi nhà là 68,7 ´ 68,7m.

ống thành nhóm là loại kết cấu không gian tổ hợp bởi một số ống đơn, thông qua sàn nhà liên kết với nhau. Mặt bằng điển hình của các loại kết cấu dạng ống biểu thị trong hình  3 trên đây.

Ngoài ra, ta còn có thể bố trí ống tại hai đầu của ngôi nhà; giữa hai ống, bố trí hệ khung để tạo ra những không gian lớn linh hoạt. Đây cũng là một loại.

Kết cấu dạng khung – ống: (xem hình 4 dưới đây)

Ta cũng có thể  bố trí tường chống trượt ở xung quanh ống trong, căn cứ vào nhu cầu về phòng khách và văn phòng làm việc cần thiết của ngôi nhà để hình thành hệ kết cấu tường chống trượt – ống như hình 5 biểu thị.

Trên thế giới, các kiến trúc cao tầng cổ đại được bảo tồn cho đến tận ngày nay, được xây dựng tuy chỉ bằng kết cấu gạch đá nhưng đã chứng minh tính bền vững ổn định qua hàng nghìn năm tồn tại nhờ đặc điểm ưu việt của kết cấu có dạng ống là tính toàn khối chỉnh thể rất cao.

Trong 20 năm trở lại đây, kết cấu siêu cao tầng dạng ống được phát triển mạnh ở Trung Quốc; từ đó đã ra đời các công trình nổi tiếng như Trung tâm Hợp hoà ở Hồng Kông, Trung tâm mậu dịch quốc tế Thâm Quyến, trung tâm điện hoa ở Bắc Kinh, cao ốc điện tín Thượng Hải...

5. Các loại kết cấu thẳng đứng khác

a. Kết cấu treo

Kết cấu treo được cấu thành bởi một hoặc hai ống. Trên đỉnh của ống (hoặc phần giữa của đỉnh) bố trí dàn lớn rồi từ dàn này dẫn ra một số thanh treo liên kết với các tầng nhà bên dưới để tạo nên toàn bộ ngôi nhà.

Kết cấu treo cũng có thể được cấu thành bởi một khung hoặc  vòm cỡ lớn. Từ trên đỉnh của chúng dẫn ra các thanh treo và dưới đó gắn với các tầng nhà để tạo nên toàn bộ ngôi nhà.

Cao ốc ngân hàng Hối phong ở Hồng Kông là một ví dụ về kết cấu treo. Kết cấu thép chủ thể 43 tầng được gánh chịu bởi 8 nhóm ống trụ thép có tiết diện 4,8´ 5,1m; mỗi nhóm do 4 thanh f1400 ´ 100 ~ f 800 ´ 40 ống thép được hàn nối và tăng cường các bản gia cố; ở hai đầu đỡ dàn thép 12m dùng làm dầm ngang để liên kết các ống trụ thép thành một chỉnh thể; mỗi một đoạn cao 7 tầng, 6 tầng, 5 tầng sàn được đeo vào dàn thép. Kích thước mặt bằng của ngôi nhà là 66,2 ´ 53,6m.

b. Kết cấu tổ hợp cỡ lớn

Gần đây ở nước ngoài, còn xuất hiện một loạt nhà cao tầng có kiểu dáng phức tạp, được cấu thành bởi các loại kết cấu đã trình bày trên đây, đặc biệt là kết cấu ống và kết cấu khung để tạo nên ngôi nhà. Một trong số đó là kết cấu tổ hợp cỡ lớn được cấu tạo kết hợp giữa kết cấu ống và kết cấu khung cỡ lớn. Một ví dụ điển hình là khách sạn á Châu tại Thâm Quyến mà khối nhà chính là kết cấu bê tông cốt thép 37 tầng được cấu thành bởi ống chủ ở trung tâm và các ống phụ ở 3 đầu (choẽ ra dạng chữ Y) là khung lớn 4 tầng đúc tại chỗ để  liên kết thành một chỉnh thể, dầm ngang của khung lớn mỗi tầng có chiều cao bằng một tầng nhà; chống đỡ phần bên trên là khung nhỏ 6 tầng. Tất cả hình thành một kết cấu tổ hợp cỡ lớn bao gồm hệ khung lớn đỡ hệ khung nhỏ và kết hợp với nhóm ống để tạo nên một chỉnh thể kết cấu như hình 7 biểu thị.

c.  Kết cấu khung – nhóm ống

Cao ốc dạng tháp 38 tầng của ngân hàng Trung Quốc tại Thâm Quyến là loại kết cấu khung – nhóm ống được cấu thành bởi ống chủ tại vùng giữa và 4 ống góc hình thoi cùng với 10 cột lớn nữa. ở cửa chính có một khung lớn có hệ cột đỡ tại hai góc được liên kết với 4 dầm lớn truyền lực với nhịp thông thuỷ 20m tại cao trình tầng thứ 6, tầng thứ 16, tầng thứ 26 và tầng thứ 36. Trên các dầm lớn truyền lực đó có đặt hệ khung nhỏ. Mặt bằng bố trí kết cấu của tầng tiêu chuẩn và mặt cắt của nhà được thể hiện qua hình 8.

6. Kết cấu sàn

Kết cấu sàn của nhà cao tầng phải thoả mãn yêu cầu về công năng sử dụng; phải có tính toàn khối tốt, độ cứng lớn, chiều cao kết cấu nhỏ, trọng lượng bản thân nhẹ, giá thành hợp lý và thi công thuận lợi. Về cơ bản, có 3 loại kết cấu sàn chủ yếu: loại bản – dầm, loại bản phẳng và loại bản có sườn dày.

a. Loại bản dầm

Phương án truyền thống của kết cấu sàn là sử dụng hệ bản dầm. Khi lưới cột lớn thường sử dụng hệ dầm chính – dầm phụ – bản sàn. Ưu điểm của phương án này là chiều dầy bản sàn tương đối mỏng, độ cứng tương đối tốt; nhược điểm là chiều cao của dầm lớn không thuận tiện cho việc  bố trí mặt bằng linh hoạt, thi công tương đối phức tạp.

b. Loại bản phẳng không dầm

Trong hệ kết cấu khung, để giảm bớt chiều cao tầng, thích ứng với yêu cầu bố trí mặt bằng linh hoạt, đơn giản hoá thi công, người ta thường phải làm cho chiều cao dầm giảm đến mức bằng chiều cao của sàn và trở thành dầm ngầm ở trong bản sàn. Như vậy sẽ hình thành hệ kết cấu bản - cột.

Trong hệ kết cấu tường chống trượt, thông thường người ta sử dụng bản sàn phẳng không dầm và như vậy gọi là hệ kết cấu bản - tường.

Để bảo đảm độ cứng theo phương nằm ngang của kết cấu, sàn của hệ kết cấu bản – cột và hệ kết cấu bản – tường phải duy trì chiều dầy ở một trị số nhất định nào đó thường không nhỏ hơn 1/40 khẩu độ. Do đó, bản sàn khẩu độ lớn có trọng lượng bản thân nặng. Để giảm bớt trọng lượng bản thân, ta có thể sử dụng bản sàn rỗng tâm.

c. Loại bản sàn có sườn dày

Bản sàn có sườn dày hợp thành bởi bản mỏng và các sườn bố trí dầy sít nhau theo một phương hay hai phương. Trọng lượng bản thân của loại  bản sàn này nhẹ, tạo hình đẹp mắt, có thể tiết kiệm thép, xi măng, giảm bớt tiết diện cột hoặc mở rộng kích thước lưới cột. Người ta thường hay dùng loại bản sàn này trong xây dựng các kho sách, phòng đọc của thư viện.

iv. Phân loại hệ thống xây dựng theo phương pháp thi công

Ngày nay nhà cao tầng xây dựng ở nước ta chủ yếu sử dụng kết cấu bê tông cốt thép. Do đó, ta cần tập trung nghiên cứu phương pháp thi công kết cấu bê tông cốt thép và nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới việc lựa chọn hệ thống xây dựng là phương pháp chế tạo bê tông cốt thép. Có thể chia ra 2  loại phương pháp chế tạo bê tông cốt thép: một loại là đổ bê tông tại chỗ nơi hiện trường thi công và một loại khác là đúc sẵn cấu kiện bê tông cốt thép trong nhà máy hay tại ngay gần hiện tường xây dựng. Trong những điều kiện cụ thể nhất định, có thể sử dụng kết hợp hai loại phương pháp trên với nhau; tại một công trường, ở các phần khác nhau của công trình có thể phân biệt sử dụng những phương pháp khác nhau.

Sự khác nhau của phương pháp chế tạo cấu kiện bê tông cốt thép, sự  khác nhau về cấu tạo, sự lựa chọn máy móc thi công, biện pháp tổ chức thi công và hiệu quả kinh tế -  kỹ thuật của thi công cũng có khác nhau. Do đó, những vấn đề trên đã trở thành những vấn đề mà các đơn vị tổ chức thiết kế, thi công xây lắp cùng quan tâm tới.

Sau đây chúng tôi xin tổng hợp 3 loại phương pháp thi công những kết cấu cơ bản bằng bê tông cốt thép như sau:

1. Phương pháp thi công kết cấu khung

a. Khung đúc liền khối toàn bộ

Toàn bộ bê tông cốt thép của bản, dầm, cột đều được đúc tại chỗ ngay tại công trình. Đây là một phương pháp ra đời sớm nhất và được áp dụng rộng rãi nhất.

Phương pháp này tạo nên những kết cấu có tính liền khối cao, tính thích  nghi mạnh. Nhưng nhược điểm lại là sức lao động sống sử dụng tại hiện trường xây dựng tương đối nhiều, đòi hỏi một lượng ván khuôn lớn; đồng thời còn yêu cầu phải giải quyết tốt việc gia công cốt thép cũng như những vấn đề nhào trộn, vận chuyển, đầm rung và dưỡng hộ đối với bê tông trong điều kiện ngoài trời. Từ vài thập kỷ lại đây, phương pháp đúc liền khối nói trên đã được công nghiệp hoá từng bước qua các khâu như: Công cụ hoá, định hình hoá ván khuôn, cải tiến tấm ván khuôn và hệ thống giàn giáo, hoàn thiện phương pháp gia công cốt thép và công nghệ hàn liên kết, thương phẩm hoá bê tông và không ngừng đổi mới kỹ thuật bơm vữa. Tất cả các khâu nói trên đều góp phần cải thiện điều kiện làm việc tại hiện trường, giảm bớt tiêu hao sức lao động sống tại chân công trình, nâng cao chất lượng của bê tông đúc tại chỗ.

b. Khung đúc sẵn – lắp ghép toàn bộ

Phương pháp này được áp dụng phổ biến một thời ở Liên Xô và các nước Đông Âu trong các thập kỷ cuối của thế kỷ trước. Và ở Việt cũng đã từng được áp dụng để xây nhà ở nhiều tầng. Người ta đúc sẵn các cấu kiện bê tông cốt thép trong nhà máy rồi vận chuyển ra hiện tường xây dựng, cẩu lắp lên thành ngôi nhà. Những cấu kiện này hoặc là khung, hoặc là tấm lắp ghép. Toàn bộ các mối nối đều dùng hàn liên kết để tạo nên chỉnh thể công trình. Tốc độ thi công khá nhanh, có thể hoàn thành một tầng trong vòng 2, 3 ngày.

Nhà cao tầng kết cấu khung đúc sẵn – lắp ghép toàn bộ là phương pháp thi công công nghiệp hoá ở mức độ  khá cao, sử dụng rất ít sức lao động sống ngoài công trường, tốc độ thi công nhanh, nhưng có nhược điểm là chủng loại, mã hiệu, quy cách, kích thước của các cấu kiện đúc sẵn rất nhiều và phức tạp; lại đòi hỏi phải có nhà máy sản xuất với quy mô nhất định với công nghệ chế tạo bê tông đúc sẵn ở trình độ cao. Ngoài ra lượng công tác hàn lớn, giá thành cũng khá cao. ở đất nước mà kết cấu hạ tầng đường xá, giao thông vận tải còn chưa phát triển như nước ta có nhiều yếu tố chưa phù hợp, nên phương pháp thi công này một thời được áp dụng khá mạnh ở thủ đô, nhưng dần dần cũng không được ưa chuộng. Một nhược điểm nữa của phương pháp này là khó thoả  mãn được các yêu cầu đa dạng nhiều vẻ của kiến trúc đối với mỹ quan của thành phố. Hiện nay hầu như được sử dụng rất ít.

c. Khung lắp ghép – đúc liền khối

Trong trường hợp phải xét đến yêu cầu kháng chấn trong những vùng có động đất, người ta thường chuyển cách làm liên kết đầu mút của dầm, cột khung lắp ghép thành liên kết bê tông cốt thép đúc liền khối. Như vậy, ta có thể nâng cao được tính toàn khối chỉnh thể của kết cấu và ở nước ngoài đã xây được những ngôi nhà cao tới 50m tại các vùng có động đất.

d. Khung có cột đúc tại chỗ, dầm và bản được lắp ghép

Trong kết cấu  khung, người ta thường sử dụng công nghệ đúc tại chỗ đối với kết cấu thẳng đứng – như cột – vì như vậy thi công tương đối đơn giản. Còn các cấu kiện nằm ngang mà thi công tương đối phức tạp thì dùng công nghệ đúc sẵn. Như vậy hình thành hệ kết cấu khung có cột đúc tại chỗ, còn dầm và bản được lắp ghép. Phương pháp thi công kết cấu kiểu này thích dụng đối với việc xây nhà cao tầng được tiêu chuẩn hoá theo các hệ mô đun thống nhất mà ngay tại địa phương xây dựng có điều kiện cung ứng thương phẩm đúc sẵn như dầm và bản.

d. Phương pháp nâng sàn

Phương pháp nâng sàn là một phương pháp thi công theo trình tự sau: trước hết đúc chồng sàn các tầng nhà ngay tại vị trí xây dựng, rồi sử dụng kích nâng sàn để nâng các tầng sàn đó lắp trên các cột đặt tại các cao trình thiết kế. Tiếp theo là cố định sàn với cột để hình thành hệ kết cấu hoàn chỉnh.

Phương pháp nâng sàn tiết kiệm được rất nhiều ván khuôn, giảm bớt khối lượng tác nghiệp trên cao, không cần đến những thiết  bị cẩu lắp lớn, thu gọn được hiện trường thi công, đặc biệt phù hợp với những địa hình chật hẹp.

Từ những năm 60 của thế kỷ trước, nhiều nước Đông Âu và Liên Xô đã sử dụng phương pháp này để xây nhà. Số tầng  nhà phát triển từ thấp đến cao. Nhà cao tầng thi công bằng phương pháp nâng sàn thường sử dụng cột bê tông cốt thép đúc tại chỗ. Kích nâng sàn tựa trên thép hình ở đầu cột.  Nếu không dùng thép hình mà vẫn sử dụng cốt thép mềm thì trước tiên phải đúc bê tông cột, rồi chờ bê tông đạt cường độ yêu cầu mới đặt kích vào lỗ chừa trong cột để tiến hành kích nâng.

Phương pháp kích nâng sàn còn được phát triển lên thành một phương pháp mới: phương pháp kích nâng tầng. Trên mặt của sàn nhà được chuẩn bị để kích nâng, lắp đặt đủ các bức tường trong, tường ngoài và các cấu kiện thẳng đứng khác xong rồi mới kích nâng toàn bộ tầng nhà lên, chồng lắp từ trên xuống dưới từng tầng một.

e. Phương pháp bản cột căng ứng suất trước liền khối

Đặc điểm của phương pháp thi công bản cột căng ứng suất trước liền khối là sử dụng phương pháp căng ứng suất trước để ghép cột và  bản sàn lại, rồi kết hợp với tường chống trượt đúc liền các mối nối để tạo nên một kết cấu không gian chỉnh thể. Phương pháp này đã được sử dụng rất phổ biến ở Nam Tư, Cu Ba và một số nước Châu Âu trong những thập kỷ 60, 70 của thế kỷ trước có hiệu quả rất cao.

2. Phương pháp thi công kết cấu tường chống trượt

a. Phương pháp đúc tại chỗ

Từ trước tới nay ở nước ta thường sử dụng loại gỗ xẻ không định hình để làm ván khuôn nên hao phí rất nhiều chất liệu gỗ, đồng thời lại đòi hỏi phải có thợ mộc tay nghề thành thạo. Từ sau ngày đổi mới, một mặt các nhà thầu trong nước tự cải tiến; mặt khác còn du nhập từ nước ngoài vào để phát triển một số phương pháp thi công công nghiệp hoá việc đúc bê tông tại chỗ như sau:

a1. Ván khuôn định hình dạng tổ hợp cỡ nhỏ và vừa

Loại ván khuôn này phát triển từ việc nghiên cứu, tổng kết và phổ biến loại ván khuôn thép định hình dạng tổ hợp cỡ nhỏ. Quy cách chủ yếu là 150 ´ 30cm, trọng lượng trong vòng 15kg, mặt ván khuôn phẳng, tháo lắp thuận tiện. Loại ván khuôn  này thay thế dần loại ván khuôn gỗ xẻ không định hình. Sau đó, tại một số công trình đã xuất hiện loại ván khuôn dạng tổ hợp cỡ lớn, kích thước mở rộng theo hệ mô đun 30cm; mặt ván khuôn đa dạng hoá, trọng lượng thường khống chế trong khoảng 30kg.

a2. Ván khuôn trượt

ở nước ngoài, người ta đã sử dụng công nghệ ván khuôn trượt để xây dựng nhà cao tầng; tính toàn khối của công trình rất tốt, tốc độ thi công rất nhanh. Nhà ở dạng tháp thường áp dụng phương pháp này, thời gian thi công kết cấu mỗi tầng nhà đạt tốc độ từ 2-3 ngày/tầng, rất thích hợp với việc xây nhà và công trình dạng tháp hoặc có tường dạng đường cong. Sàn nhà thường được đúc tại chỗ; cũng có thể sử dụng cấu kiện chế sẵn để lắp. Đầu những năm 80 của thế kỷ trước ở nước ta đã xây khách sạn Hà Nội 11 tầng bằng phương pháp này.

a3. Ván khuôn cỡ lớn

Trong xây dựng nhà cao tầng, người ta còn sử dụng công nghệ ván khuôn cỡ lớn. Tính toàn khối của nhà rất tốt, mặt tường phẳng nhẵn, dễ  nắm bắt kỹ thuật thi công. Tường chịu lực bên trong của nhà ván khuôn trượt đều dùng ván khuôn cỡ lớn để thi công. Có 3 phương pháp lựa chọn để hoàn thành tường ngoài: đúc tại chỗ, lắp ghép hoặc xây. Sàn nhà có thể căn cứ vào tình hình cụ thể khác nhau của công trình để sử dụng các phương pháp: lắp ghép, đúc tại chỗ hoặc kết hợp giữa lắp ghép và đúc tại chỗ.

Nhà ở và khách sạn cao tầng đều có thể thi công bằng phương pháp ván khuôn cỡ lớn để đạt hiệu quả cao về kinh tế kỹ thuật.

a4. Ván khuôn tuy nen

Phương pháp ván khuôn tuy nen là công nghệ thi công đúc tại chỗ đồng thời các bức tường chịu lực và sàn nhà, chỉ một lần dựng ván khuôn và một lần đúc tại chỗ để thành hình. Do đó, tính toàn khối của kết cấu cực kỳ tốt, các mặt tường và sàn nhà đều rất phẳng, nhẵn.

ở Pháp và một số nước Châu Âu đã áp dụng phương pháp này để làm nhà ở, khách sạn cao tầng từ những năm 60 của thế kỷ trước.

b. Phương pháp lắp ghép

b1. Xây lắp khối lớn

Phương pháp này đã được dùng phổ biến ở Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa từ nửa thế kỷ trước đây. ở nước ta, đã xây dựng thí điểm khu nhà Kim Liên đầu tiên bằng phương pháp này (nhưng mới cao 4 tầng) ở nước ngoài, người ta đã xây nhà ở cao tới 10 tầng bằng những khối lớn bê tông cốt thép rỗng hoặc bằng khối lớn bê tông than xỉ rỗng. Có nước đã xây nhà 13 tầng bằng bê tông khối lớn không đặt thép ở những vùng không có động đất; còn có thể xây nhà 22 tầng bằng bê tông khối lớn có đặt thép ở ngay cả những vùng có động đất.

b2. Lắp ghép tấm lớn

Trong một thời gian dài sau đại chiến lần thứ hai, ở Pháp rồi sau đó ở Liên Xô và các nước Đông Âu, người ta đã dùng phương pháp này rất phổ biến để xây dựng nhà ở. Hàng chục triệu m2 nhà ở đã được hoàn thành với phương pháp lắp ghép tấm lớn đúc sẵn với trình độ công  nghiệp hoá khá cao, chi phí rất ít sức lao động sống ngoài hiện trường, tốc độ thi công nhanh, cải thiện rõ rệt điều kiện lao động. Nhà lắp ghép cao tầng tấm lớn tăng không nhiều về mặt giá thành, nhân công và có hiệu quả kinh tế khá tốt. Người ta đã xây dựng hàng loạt khu nhà ở với số tầng từ 9 đến 25, đến mức phương pháp  này trở thành phương thức chủ yếu trong xây dựng nhà ở quy mô lớn.

ở nước ta, khu nhà ở Bắc và Nam Thanh Xuân Hà Nội là điển hình xây dựng theo phương pháp này với số tầng cao từ 4 đến 5 tầng ở thập kỷ 80 thế kỷ trước.

b3. Lắp ghép hộp cỡ lớn

Đây là phương pháp xây dựng những ngôi nhà lắp ghép bằng những hộp dạng không gian được chế tạo tất cả trong nhà máy rồi vận chuyển tới hiện trường để tổ hợp thành nhà. Mức độ công nghiệp hoá lắp ghép so với phương pháp  lắp ghép tấm lớn còn cao hơn một bước; do đó thời gian xây dựng công trình rất ngắn, sức lao động sống ngoài hiện trường càng giảm, điều kiện lao động cải thiện nhiều. Nhưng nhược điểm của phương pháp này là đầu tư ban đầu rất tốn kém, đồng thời phải giải quyết vấn đề thiết bị vận chuyển và thiết bị lắp dựng cỡ lớn. Vì vậy chưa được áp dụng ở nước ta.

Nước ngoài như Liên Xô, Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc đều đã dùng phương pháp này để xây dựng nhà ở và khách sạn cao từ 11 đến 22 tầng.

3. Phương pháp thi công kết cấu dạng ống

Trong phương pháp này, dầm, cột chịu lực và tường chịu lực của kết cấu bê tông cốt thép đều áp dụng công nghệ đúc tại chỗ nên bảo đảm được tính toàn khối cao của nhà cao tầng. Ván khuôn để đúc bê tông dầm, cột sử dụng loại ván khuôn công cụ tổ hợp tháo lắp được hoặc dùng ván khuôn trượt. Ván khuôn để đúc tường của ống thường dùng loại ván khuôn cỡ lớn hoặc dùng ván khuôn trượt.

Khẩu độ của sàn nhà giữa ống trong và tường ngoài (hoặc cột) thường đạt tới 8-12m; thông thường sử dụng sàn đúc tại chỗ hoặc sàn đúc liền với ván khuôn thép hoặc bê tông cốt thép mỏng làm ván khuôn vĩnh cửu cùng làm việc với lớp bê tông bên trên; cũng có thể làm bằng sàn đúc liền khối giữa lớp sàn có sườn dầy bên dưới và lớp bê tông đúc tại chỗ  bên trên.




<< Back

 

Nội dung khác:
      Tin hợp tác Việt – Nhật.
      Nhiên liệu từ sinh khối nông nghiệp
      Về nguyên nhân gây hư hại và Biện pháp xử lý bảo vệ đá thiên nhiên
      Sử dụng panen dự ứng lực lắp ghép trong xây dựng nhà cao tầng
      Một vài thay đổi trong phương án xác định thành phần bê tông của Nga